
NGND.GS.TS Trần Hữu Dàng, chủ tịch Hội Nội tiết và Đái đường Việt Nam phát biểu tại hội thảo về bệnh nội tiết, đái tháo đường và rối loạn chuyển hóa Việt Nam mới được tổ chức tại TPHCM. Ảnh: L. Minh
Gần đây, một thay đổi quan trọng trong cách tiếp cận đái tháo đường type 2 là khái niệm "lui bệnh". NGND.GS.TS Trần Hữu Dàng, chủ tịch Hội Nội tiết và Đái đường Việt Nam đã cho biết như vậy tại hội thảo về bệnh nội tiết, đái tháo đường và rối loạn chuyển hóa Việt Nam mới được tổ chức tại TPHCM.
Mang lại nhiều hy vọng cho người mắc bệnh đái tháo đường type 2
Theo GS Dàng, thay vì mặc định đái tháo đường type 2 là bệnh phải điều trị suốt đời, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy một số người bệnh đái tháo đường type 2 có thể đưa đường huyết trở về mức bình thường thông qua giảm cân và thay đổi lối sống.
Các tổ chức Đái tháo đường lớn trên thế giới cùng cho rằng khi người bệnh duy trì được HbA1c dưới ngưỡng chẩn đoán (6,5%), quá 3 tháng mà không cần sử dụng thuốc, tình trạng này có thể được gọi là "lui bệnh" đái tháo đường.
Thông tin mới này mang lại nhiều hy vọng để nhiều người mắc bệnh đái tháo đường type 2 có kế hoạch tìm cách "lui bệnh". Hiện nay, bệnh đái tháo đường được "xếp loại" là bệnh nhà giàu và rất nhiều người sợ mắc căn bệnh này.
GS Dàng nhấn mạnh "giảm cân có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc "lui bệnh" đái tháo đường. Và giảm bao nhiêu cân cũng đều góp phần quan trọng trong quá trình điều trị căn bệnh này.
Một số nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy những người mới mắc bệnh đái tháo đường type 2 đã lui bệnh. Những nghiên cứu này cũng cho thấy những người có thời gian mắc bệnh không quá 6 năm, HbA1c chưa quá cao, đang sử dụng không quá 2 loại thuốc và chưa phải sử dụng insulin có khả năng lui bệnh rất cao.
Tuy nhiên, khả năng lui bệnh khác nhau ở từng người. Vì vậy, điều trị đái tháo đường cần được cá thể hóa thay vì áp dụng một công thức giống nhau cho tất cả người bệnh
Người Việt gầy bên ngoài nhưng nhiều mỡ nội tạng
Một vấn đề được GS Dàng đặc biệt nhấn mạnh là đặc điểm thể trạng của người bệnh Việt Nam.
Chỉ số BMI thường được sử dụng để đánh giá tình trạng thừa cân, béo phì. Chỉ số BMI lớn hơn 23 là thừa cân, hơn 25 là béo phì. Tuy nhiên, rất nhiều người Việt Nam chỉ số BMI dưới 23 nhưng ở nữ lại có vòng bụng trên 80 cm và ở nam lại có vòng bụng trên 90 cm.
Điều này cho thấy nhiều người Việt không bị thừa cân, béo phì nhưng vẫn tích tụ mỡ nội tạng. Trong khi mỡ nội tạng là yếu tố liên quan đến đề kháng insulin và nguy cơ mắc đái tháo đường type 2.
"Vì vậy không nên chỉ dựa vào BMI để đánh giá nguy cơ chuyển hóa ở người Việt. Vòng bụng cũng là một chỉ số cần được quan tâm trong khám và đánh giá người bệnh", GS Dàng nêu vấn đề.
GS Dàng cho rằng rất cần có thêm những nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm phân bố mỡ, tình trạng đề kháng insulin và kiểu hình đái tháo đường ở người Việt Nam.
Bên cạnh những thuốc và công nghệ điều trị mới, GS Dàng lưu ý việc lựa chọn phương pháp điều trị cần phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.
Không phải mọi thuốc và công nghệ mới đều có thể áp dụng rộng rãi cho tất cả người bệnh. Chi phí điều trị, khả năng chi trả của người bệnh và phạm vi chi trả của bảo hiểm y tế là những yếu tố cần được tính đến.
Theo GS Dàng, thay đổi lối sống vẫn là nền tảng của điều trị đái tháo đường. Các thuốc mới có thể mang lại nhiều lợi ích, nhưng cần được lựa chọn dựa trên nguy cơ tim mạch, thận, khả năng giảm cân, mức độ kiểm soát đường huyết và điều kiện kinh tế của từng người bệnh.
Đặc biệt, với người Việt Nam, việc nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm riêng của bệnh đái tháo đường và xây dựng chiến lược điều trị phù hợp với thể trạng, nguồn lực y tế là vấn đề cần được quan tâm.

NGND.GS.TS Trần Hữu Dàng đưa ra những thông tin mới về bệnh đái tháo đường trước hội thảo. Ảnh: L.Minh
Hơn 60% số người mắc bệnh đái tháo đường vẫn chưa được chẩn đoán
Một trong những vấn đề đáng lo ngại hiện nay là khoảng cách giữa số người mắc bệnh, số người được chẩn đoán và số người được điều trị, kiểm soát hiệu quả.
Theo số liệu được GS Dàng trình bày tại hội nghị, tỷ lệ người bệnh đái tháo đường tại Việt Nam đạt mục tiêu HbA1c dưới 7% chỉ khoảng 36,1%. Số người mắc bệnh nhưng chưa được chẩn đoán vẫn chiếm tỷ lệ 60,8%.
"Như vậy còn rất nhiều bệnh nhân đái tháo đường tại Việt Nam đang lang thang trên đường phố, trên đồng ruộng…mà không được chẩn đoán" , GS Dàng nhấn mạnh.
Ngay cả trong nhóm đã được chẩn đoán, số người được điều trị và kiểm soát đường huyết đạt mục tiêu vẫn còn hạn chế.
Như vậy, bài toán của Việt Nam không chỉ là phát hiện thêm người mắc đái tháo đường mà còn phải thu hẹp đồng thời ba khoảng cách: chưa được chẩn đoán; đã chẩn đoán nhưng chưa được điều trị; đã điều trị nhưng chưa kiểm soát được bệnh.
Theo GS Dàng, đái tháo đường type 2 ở Việt Nam đang có những đặc điểm cần được nghiên cứu sâu hơn như bệnh có xu hướng trẻ hóa, người Việt có thể có tình trạng mỡ nội tạng cao dù BMI không cao, chế độ ăn của một bộ phận người dân có nhiều yếu tố bất lợi cho chuyển hóa…
Những đặc điểm này đặt ra yêu cầu phải xây dựng bằng chứng riêng cho người Việt Nam, thay vì chỉ dựa vào dữ liệu từ các quần thể khác.
Theo GS Dàng nguồn lực y tế tại tuyến cơ sở vẫn còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng nhân lực. Việt Nam cũng đang thiếu các chuyên gia dinh dưỡng và nhiều nhân lực chuyên sâu để quản lý toàn diện bệnh đái tháo đường.
Điều này dẫn đến thực trạng một bác sĩ lâm sàng phải đảm nhiệm nhiều nội dung tư vấn khác nhau, từ dinh dưỡng, vận động đến theo dõi các biến chứng mắt, thận, thần kinh… Trong quá trình đó, một số vấn đề có thể bị bỏ sót.
Trước những vấn đề trên, chuyên gia cho rằng Việt Nam cần xây dựng hệ thống dữ liệu và bằng chứng khoa học về đái tháo đường của chính người Việt.
Các nghiên cứu cần tập trung vào tỷ lệ mắc bệnh và tiền đái tháo đường; tỷ lệ kiểm soát đường huyết; đặc điểm BMI và mỡ nội tạng; tình trạng đề kháng insulin; gánh nặng biến chứng; tuân thủ điều trị; hiệu quả thực tế của các nhóm thuốc mới và công nghệ theo dõi đường huyết liên tục.
Đồng thời, cần đánh giá thực trạng nguồn nhân lực nội tiết ở các vùng miền, từ Bắc vào Nam, để có chiến lược đào tạo và phân bổ phù hợp.
Mục tiêu cuối cùng không chỉ là có thêm thuốc mới mà phải xây dựng được một hệ thống chăm sóc đái tháo đường phù hợp với đặc điểm người Việt và điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam.
Giữ vòng bụng để phòng ngừa hàng triệu ca bệnh đái tháo đường
Một thông điệp được GS Dàng nhấn mạnh là "kiểm soát vòng bụng", bởi chỉ cần giữ vòng bụng dưới 80 cm ở nữ và dưới 90 cm ở nam sẽ phòng ngừa được hàng triệu ca đái tháo đường ở Việt Nam
Đây không phải nhiệm vụ riêng của ngành y tế. Để thay đổi chế độ ăn, tăng vận động và duy trì lối sống lành mạnh, cần sự tham gia của nhiều ngành và toàn xã hội.