Thị trường carbon là chìa khóa thu hút đầu tư chất lượng cao
Theo Báo cáo Tình trạng Thị trường Carbon 2026 của Liên minh Hành động Carbon Quốc tế (ICAP), các hệ thống giao dịch phát thải (ETS) đang trở thành "hạ tầng" chính sách khí hậu then chốt trên toàn cầu. Hiện có 41 hệ thống ETS đang vận hành, bao phủ 26% lượng phát thải và các nền kinh tế sở hữu ETS đang chiếm tới 63% GDP toàn cầu. Năm 2026 đánh dấu bước ngoặt khi Việt Nam cùng với Nhật Bản và Ấn Độ dự kiến đưa hệ thống ETS quốc gia vào vận hành, cho thấy sự chuyển dịch mạnh mẽ của công cụ định giá carbon sang các nền kinh tế mới nổi quy mô lớn.

Việt Nam có thế mạnh lớn ở thị trường tín chỉ carbon do có diện tích rừng. Ảnh: PV
Việc tham gia thị trường carbon không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc để doanh nghiệp Việt Nam duy trì lợi thế cạnh tranh. Nếu chần chừ, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sẽ đối mặt với gánh nặng chi phí từ các hàng rào kỹ thuật xanh quốc tế và nguy cơ bị gạt ra khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu. Ngược lại, thị trường carbon chính là "chìa khóa" để thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất lượng cao và khai thác các nguồn tài chính xanh.
Để hiện thực hóa thị trường này, Chính phủ đã ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ, trọng tâm là Nghị định số 29/2026/NĐ-CP về Sàn giao dịch carbon trong nước và Quyết định số 263/QĐ-TTg phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải thí điểm cho giai đoạn 2025-2026.
Trong giai đoạn thí điểm từ nay đến năm 2028, "tấm vé" đầu tiên tham gia thị trường đã được trao cho 110 cơ sở phát thải lớn thuộc các lĩnh vực nhiệt điện, sản xuất sắt thép và xi măng theo Quyết định số 699/QĐ-BNNMT. Đây là những doanh nghiệp nòng cốt được phân bổ hạn ngạch phát thải dựa trên kết quả kiểm kê khí nhà kính, tạo tiền đề cho hoạt động giao dịch chính thức.
Theo PGS.TS Hoàng Văn Phụ, Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Kinh tế và Phát triển, "thị trường tín chỉ carbon chính là công cụ kinh tế quyết định khả năng thúc đẩy giảm phát thải khí nhà kính và ứng phó biến đổi khí hậu trong mô hình tăng trưởng xanh".
Bản chất của thị trường này là việc mua bán quyền phát thải khí CO₂ theo nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền". Cơ chế này giúp phân bổ hiệu quả nguồn lực, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư công nghệ sạch, đồng thời tạo dòng tài chính mới cho các hoạt động giảm phát thải.

Việc tham gia thị trường carbon không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc để doanh nghiệp Việt Nam duy trì lợi thế cạnh tranh.
TS. Tô Xuân Phúc, Giám đốc điều hành Chương trình chính sách thương mại lâm sản, Tổ chức Forest Trends (Mỹ), nhìn nhận, để tham gia thị trường hiệu quả, các chuyên gia khuyến cáo doanh nghiệp cần chủ động thực hiện lộ trình 3 bước.
Thứ nhất là chuẩn hóa dữ liệu kiểm kê, việc phân bổ hạn ngạch phụ thuộc trực tiếp vào báo cáo kiểm kê khí nhà kính. Doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống dữ liệu phát thải chính xác, minh bạch để bảo vệ quyền lợi về hạn ngạch.
Thứ hai là xây dựng đội ngũ chuyên trách, doanh nghiệp cần hiểu rõ quy trình đăng ký tài khoản trên Hệ thống đăng ký quốc gia, cách thức vận hành của sàn giao dịch và các quy định về lưu ký, thanh toán.
Cuối cùng là tối ưu hóa nguồn lực, thay vì chỉ coi hạn ngạch là chi phí, doanh nghiệp nên nhìn nhận đây là tài sản. Đầu tư vào công nghệ giảm phát thải ngay từ bây giờ sẽ giúp doanh nghiệp thừa dư hạn ngạch để bán lại hoặc giảm thiểu nhu cầu mua tín chỉ bù trừ trong tương lai.
Diện tích rừng lớn là nguồn cung cấp tín chỉ carbon dồi dào
Với 14,79 triệu ha rừng và tỷ lệ che phủ 42,02%, Việt Nam nằm trong nhóm 10 quốc gia có diện tích rừng tăng nhanh nhất thế giới. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển tín chỉ carbon rừng.
Theo ông Trần Quang Bảo, Cục trưởng Cục Lâm nghiệp (Bộ NN&MT), "lâm nghiệp là lĩnh vực đang phát thải âm, có tiềm năng rất lớn để tham gia thị trường tín chỉ carbon".
Nguồn lợi rõ ràng cho người giữ rừng được nhìn nhận, khi tín chỉ carbon rừng được giao dịch chủ rừng có thêm thu nhập hợp pháp từ công tác bảo vệ rừng; Người dân nâng cao nhận thức về giá trị kinh tế của rừng; Hình thành tư duy sản xuất - quản trị rừng chuyên nghiệp.

Việt Nam nằm trong nhóm 10 quốc gia có diện tích rừng tăng nhanh nhất thế giới.
Ông Bảo cho biết việc Việt Nam nhận 51,5 triệu USD từ Thỏa thuận chi trả giảm phát thải (ERPA) vùng Bắc Trung Bộ do WB tài trợ là minh chứng rõ ràng. WB đánh giá cao việc chuyển nhượng tín chỉ carbon của Việt Nam và mong muốn nhân rộng mô hình này ra thế giới.
Để thị trường tín chỉ carbon hoạt động minh bạch và hiệu quả, ông Trần Quang Bảo kiến nghị cần hoàn thiện hành lang pháp lý cùng với đó nâng cao năng lực cho địa phương và chủ rừng. Tăng cường đào tạo, tập huấn về: đo đạc - báo cáo - thẩm định (MRV), phương pháp tính toán tín chỉ carbon, quản trị dự án giảm phát thải.
Phát triển hệ thống dữ liệu đồng bộ cũng dược coi là giải pháp sớm đo đạc và tính toán được tín chỉ, Việt Nam cần sớm xây dựng cơ sở dữ liệu carbon rừng, hệ thống đo đạc - báo cáo - thẩm định đạt chuẩn quốc tế, kết nối dữ liệu giữa các bộ ngành.
Nguồn lực kỹ thuật và tài chính từ các tổ chức quốc tế sẽ giúp Việt Nam tăng tốc trong giai đoạn đầu vận hành thị trường carbon.
Nhiều chuyên gia đề xuất sandbox tín chỉ carbon - cơ chế thử nghiệm có kiểm soát - để các mô hình mới được vận hành an toàn trước khi áp dụng rộng rãi. Đồng thời, Nhà nước nên: khuyến khích tài chính xanh, kết nối doanh nghiệp với thị trường quốc tế, thúc đẩy ngân hàng phát triển các gói tín dụng carbon.
Việt Nam đang ở giai đoạn bản lề. Những kết quả bước đầu của dự án ERPA với WB cho thấy tiềm năng lớn và khả năng thực thi cao. Khi sàn giao dịch tín chỉ carbon đi vào vận hành, thị trường sẽ minh bạch hơn, giá tín chỉ hình thành theo cung - cầu và doanh nghiệp có thể chủ động tham gia.
Thị trường tín chỉ carbon không chỉ là công cụ giảm phát thải, mà còn là động lực phát triển lâm nghiệp bền vững, nâng cao thu nhập người dân và đóng góp thiết thực vào mục tiêu Net-zero năm 2050.