Tín chỉ carbon thúc đẩy trồng rừng, tạo sinh kế cho người dân bằng tăng trưởng xanh

Xã hội
SKĐS - Tín chỉ carbon là một loại hàng hóa môi trường, đại diện cho giá trị giảm phát thải khí nhà kính. Tham gia thị trường carbon giúp Việt Nam huy động thêm nguồn lực tài chính cho bảo vệ rừng, đồng thời đóng góp vào mục tiêu giảm phát thải và tăng trưởng xanh.

Bán tín chỉ carbon không có nghĩa là bán rừng

Việt Nam là một trong 10 quốc gia có diện tích rừng trồng nhiều nhất trên thế giới, ngành lâm nghiệp của nước ta không những góp phần vào việc phát triển kinh tế chung của cả nước mà còn góp phần vào bảo vệ môi trường giúp Việt Nam đối phó với các tác động của biến đổi khí hậu. 

Tại hội nghị COP 26 và với việc thực hiện các cam kết quốc tế, Việt Nam đã cam kết sẽ đưa mức phát thải ròng về bằng 0 (Net-zero) vào năm 2050. Một trong số những giải pháp được ưu tiên thực hiện là đẩy mạnh việc phát triển tín chỉ carbon dựa vào khả năng hấp thụ carbon của rừng. 

Tín chỉ carbon thúc đẩy trồng rừng, tạo sinh kế cho người dân bằng tăng trưởng xanh- Ảnh 1.

Việt Nam là một trong 10 quốc gia có diện tích rừng trồng nhiều nhất trên thế giới. Ảnh: Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm.

Tín chỉ Carbon là chứng nhận để giao dịch thương mại và thể hiện quyền phát thải lượng khí nhà kính, cụ thể là khí CO2. Nó đại diện cho quyền phát thải một tấn CO2 hoặc một lượng khí nhà kính khác tương đương với 1 tấn CO2 (tCO2e) vào bầu khí quyển. Tín chỉ carbon là giấy phép hoặc chứng chỉ có thể mua bán, cung cấp cho người nắm giữ tín chỉ quyền phát thải một tấn carbon dioxide hoặc tương đương với một loại khí nhà kính khác. Mục tiêu chính của việc tạo ra tín chỉ carbon là giảm lượng khí thải carbon dioxide và các loại khí nhà kính khác từ hoạt động công nghiệp, nhằm giảm tác động của hiện tượng nóng lên toàn cầu.

Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, Khi Việt Nam tham gia thị trường carbon rừng, nhiều ý kiến cho rằng nước ta đang "bán rừng" cho nước ngoài. Đây là một hiểu lầm phổ biến cần được làm rõ.

Thực tế, Việt Nam không bán rừng mà chỉ chuyển nhượng quyền ghi nhận lượng giảm phát thải (Emission Reductions - ERs). Đây là lượng khí CO₂ được hấp thụ hoặc không phát thải nhờ bảo vệ và phát triển rừng. Quyền được chuyển nhượng là kết quả giảm phát thải, không phải quyền sở hữu hay quyền sử dụng rừng.

Theo quy định của Luật Lâm nghiệp năm 2017 và Luật Đất đai năm 2024, đất rừng và tài nguyên rừng vẫn thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện quản lý. Người dân, cộng đồng và các tổ chức trong nước tiếp tục quản lý, bảo vệ và phát triển rừng như trước.

Các tổ chức hoặc quốc gia mua tín chỉ carbon không được sở hữu rừng, không được khai thác tài nguyên, cũng không có quyền can thiệp vào công tác quản lý rừng của Việt Nam.

Việc giao dịch được thực hiện thông qua các hợp đồng thương mại về giảm phát thải, điển hình như Thỏa thuận chi trả giảm phát thải (ERPA) giữa Việt Nam và Quỹ Đối tác Carbon trong Lâm nghiệp (FCPF) của Ngân hàng Thế giới. Đối tượng của hợp đồng là quyền ghi nhận kết quả giảm phát thải, hoàn toàn không liên quan đến chuyển nhượng đất đai hay tài nguyên rừng.

Nguồn thu từ thị trường carbon cũng được sử dụng để tái đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển rừng. Chẳng hạn, khoản 56,5 triệu USD từ thỏa thuận giảm phát thải khu vực Bắc Trung Bộ được phân bổ thông qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đến các chủ rừng và hộ nhận khoán tại 6 tỉnh theo Nghị định 107/2022/NĐ-CP. Khoản kinh phí này góp phần tạo thêm nguồn lực để người dân gắn bó với nghề rừng, nâng cao hiệu quả bảo vệ và phát triển rừng.

Có thể hiểu đơn giản, tín chỉ carbon là một loại hàng hóa môi trường, đại diện cho giá trị giảm phát thải khí nhà kính. Vì vậy, bán tín chỉ carbon không đồng nghĩa với bán rừng. Tham gia thị trường carbon giúp Việt Nam huy động thêm nguồn lực tài chính cho bảo vệ rừng, đồng thời đóng góp vào mục tiêu giảm phát thải và tăng trưởng xanh.

Quy trình cấp tín chỉ carbon phải qua nhiều bước

TS Vũ Tấn Phương, Giám đốc Văn phòng Chứng chỉ Quản lý rừng bền vững (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam), cho biết phát triển tín chỉ carbon là quy trình phức tạp, không đơn thuần chỉ là trồng rừng rồi bán tín chỉ.

Dự án phải trải qua nhiều bước như xây dựng dữ liệu, tính toán lượng hấp thụ carbon, đo đạc, giám sát, báo cáo và thẩm định độc lập trước khi được cấp tín chỉ.

Theo ông Phương, riêng giai đoạn xây dựng hồ sơ dự án có thể kéo dài từ 6-12 tháng, trong khi chi phí thuê tư vấn, giám sát và xác minh carbon khá lớn. Với quy mô nhỏ và nguồn lực hạn chế, các hộ dân khó có khả năng tự triển khai toàn bộ quy trình.

Dù Nghị định 180/2026/NĐ-CP cho phép hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư tham gia dự án carbon rừng, chuyên gia cho rằng với quy mô nhỏ lẻ và chi phí kỹ thuật lớn, các hộ sẽ khó tự triển khai nếu không liên kết với hợp tác xã, doanh nghiệp hoặc tổ chức trung gian.

Từ thực tế này, ông Phương đề xuất tổ chức liên kết các hộ trồng rừng thông qua hợp tác xã, tổ hợp tác hoặc doanh nghiệp đầu mối nhằm hình thành vùng nguyên liệu đủ lớn, đồng thời chia sẻ chi phí kỹ thuật, dữ liệu và quy trình xác minh carbon.

Hiện nay, nhiều nghiên cứu tập trung vào xác định trữ lượng và tính toán tín chỉ carbon cho các đối tượng khác nhau như sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Nhóm nghiên cứu của Khoa Tài nguyên và Môi trường, Học viện Nông nghiệp Việt Nam thực hiện nghiên cứu bước đầu xác định sinh khối và trữ lượng carbon đối với rừng trồng keo từ tuổi 1-7 tại tỉnh Thanh Hóa.

Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy trữ lượng carbon của rừng trồng keo từ tuổi 1 đến tuổi 7 dao động từ 41,52 tấn CO2/ha đến 180,22 tấn CO2/ha, giá trị hấp thụ carbon mang lại rất cao từ 118,29 đến 513,62 USD/ha. Ngoài ra, trữ lượng carbon trong đất của rừng trồng keo lá tràm từ tuổi 1 đến tuổi 7 diễn biến từ 38,78 đến 68,85 tấn CO2/ha. Trữ lượng carbon hữu cơ ở các tầng đất (0-60 cm) ở các cấp độ tuổi khác nhau của rừng trồng (tuổi 1, 3, 5, 7) lần lượt là 108,81; 138,12; 188,03 và 201,29 tấn/ha. Trong đó, trữ lượng carbon hữu cơ ở tầng đất 0 - 20 cm chiếm 36,56%.

Thời gian qua, Chính phủ đã liên tục hoàn thiện hành lang pháp lý cho thị trường carbon. Nghị định 29/2026/NĐ-CP quy định tín chỉ carbon phải được đăng ký tập trung trên Hệ thống đăng ký quốc gia trước khi giao dịch. Nghị định 112/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 19/5, tạo cơ sở pháp lý cho việc trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon. Mới đây nhất, Nghị định 180/2026/NĐ-CP ban hành ngày 21/5 quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng.

Tín chỉ carbon thúc đẩy trồng rừng, tạo sinh kế cho người dân bằng tăng trưởng xanh- Ảnh 2.Lợi ích kép của mô hình trồng dược liệu tạo tín chỉ carbon

SKĐS - Mô hình trồng dược liệu kết hợp tạo tín chỉ carbon là giải pháp canh tác đa tầng, mang lại lợi ích kép: vừa thu hoạch cây thuốc, vừa tạo ra chứng chỉ giảm phát thải carbon để thương mại hóa.


Ý kiến của bạn