Hơn 30 ngành, nghề đào tạo khó tuyển sinh dù thị trường 'khát' nhân lực

Thời sự
SKĐS - Vì sao nhiều ngành, nghề mà thị trường đang "đỏ mắt" tìm nhân lực nhưng các trường lại trầy trật tuyển sinh?

Thực tế cho thấy, nhiều ngành nghề dù có tỷ lệ ra trường làm đúng nghề rất cao nhưng vẫn khó thu hút người học do tâm lý ngại môi trường làm việc đặc thù, vất vả hoặc thiếu thông tin định hướng. 

Để giải quyết nghịch lý này, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến góp ý cho dự thảo Thông tư ban hành danh mục ngành, nghề đào tạo khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu ở trình độ cao đẳng và trung cấp. Theo đó, các tiêu chí xác định nhóm ngành này được quy định cụ thể nhằm bảo đảm cung ứng nguồn nhân lực sát với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội.

Theo dự thảo, ngành khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu là những lĩnh vực đòi hỏi nguồn nhân lực phục vụ hiện tại hoặc tương lai nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nhưng gặp khó khăn trong thu hút người học. Đây là những ngành có tỷ lệ tuyển sinh thực tế thấp so với chỉ tiêu xác định phù hợp năng lực đào tạo, hoặc quy mô tuyển sinh liên tục giảm và không đáp ứng đủ nhu cầu thị trường lao động trong 3 năm liên tiếp.

Để được đưa vào danh mục này, dự thảo yêu cầu ngành đào tạo phải đáp ứng đồng thời 4 tiêu chí cốt lõi. Trước hết, ngành nghề phải nằm trong danh mục đào tạo do cơ quan có thẩm quyền ban hành. Bên cạnh đó, ngành học thường xuyên không đạt chỉ tiêu hoặc quy mô đào tạo trong 3 năm liền tại các cơ sở thuộc bộ, ngành, địa phương, với tỷ lệ tuyển sinh bình quân đạt dưới 70% so với chỉ tiêu giao.

Đồng thời, đây phải là ngành xã hội có nhu cầu sử dụng nhân lực hiện tại và dự báo tương lai, căn cứ qua số lượng lao động thiếu hụt hay nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, đơn vị quốc phòng an ninh. Cuối cùng, tỷ lệ người tốt nghiệp có việc làm phù hợp chuyên môn phải ở mức cao so với mặt bằng chung sau 6 tháng ra trường, kèm minh chứng rõ ràng về nhu cầu tiếp diễn của thị trường.

Song song với 4 tiêu chí nền tảng, ngành nghề được chọn phải thuộc một trong hai nhóm điều kiện bổ sung. Một là có tính chất đặc thù về môi trường làm việc tại vùng sâu, vùng xa, hải đảo, kinh tế biển, nông lâm ngư nghiệp, khai khoáng, hoặc đòi hỏi năng khiếu, thể chất, bảo tồn giá trị văn hóa nghệ thuật. Hai là đóng vai trò thiết yếu đối với phát triển kinh tế chiến lược, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, quốc phòng và an ninh.

Đối với các ngành mới thành lập, tạm dừng tuyển sinh hoặc phục vụ lĩnh vực kinh tế trọng điểm, công nghệ mới, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn chưa đủ dữ liệu 3 năm, dự thảo quy định sẽ xem xét đưa vào danh mục dựa trên cơ sở dự báo nhu cầu nhân lực và tuyển dụng của xã hội. Danh mục này sẽ được định kỳ rà soát, bổ sung ít nhất 1 lần trong 5 năm. Khi Thông tư chính thức có hiệu lực, các quy định trước đây của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sẽ hết hiệu lực, đồng thời các khóa học đang triển khai trước đó tiếp tục được thực hiện theo quy định cũ cho đến khi kết thúc toàn bộ khóa học.

Dự kiến danh mục ngành, nghề đào tạo khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu:

Hơn 30 ngành, nghề khó tuyển sinh nhưng xã hội đang 'khát' nhân lực - Ảnh 1.
Hơn 30 ngành, nghề khó tuyển sinh nhưng xã hội đang 'khát' nhân lực - Ảnh 2.
Hơn 30 ngành, nghề khó tuyển sinh nhưng xã hội đang 'khát' nhân lực - Ảnh 3.
Hơn 30 ngành, nghề khó tuyển sinh nhưng xã hội đang 'khát' nhân lực - Ảnh 4.
Hơn 30 ngành, nghề khó tuyển sinh nhưng xã hội đang 'khát' nhân lực - Ảnh 5.Nhóm ngành Sức khỏe nào đề xuất vào danh mục ngành nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm?

SKĐS - Nhiều ngành đào tạo thuộc khối ngành Sức khỏe được đề xuất đưa vào danh mục ngành, nghề đào tạo nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.


Ý kiến của bạn