Bài viết của Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu dành cho Báo Sức khỏe & Đời sống nhân kỷ niệm 55 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/1955 - 27/2/2010)
Cách đây vừa tròn 55 năm, ngày 27/2/1955, trong thư gửi Hội nghị cán bộ y tế, Hồ Chủ tịch đã căn dặn cán bộ y tế có tình thương và lòng nhân ái đối với người bệnh - "Thầy thuốc phải như mẹ hiền", "Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô các chú. Chính phủ phó thác cho các cô các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khỏe của đồng bào", xây dựng nền y học Việt Nam trên nguyên tắc "khoa học, dân tộc và đại chúng", nghiên cứu và phối hợp thuốc "Đông" và thuốc "Tây" trong chữa bệnh. Lời Bác dạy đã trở thành nền tảng tư tưởng của ngành y tế, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động hoạt động của ngành trong suốt hơn nửa thế kỷ qua.
Giai đoạn trước và trong thời kỳ đổi mới
Trong giai đoạn 1955-1965, nhiệm vụ trọng tâm của ngành y tế là xây dựng và phát triển y tế nông thôn. Nhờ những cố gắng, nỗ lực của ngành y tế, y tế nông thôn ở miền Bắc trong thời kỳ này đã có những thay đổi rõ rệt. Phong trào "Sạch làng, tốt ruộng", "Sạch bản, tốt nương" đã nở rộ và thu được những kết quả rực rỡ; xử lý cơ bản chất thải, rác thải sinh hoạt; phong trào 3 công trình vệ sinh ở nông thôn đã được phát động và thực hiện tốt. Ngành y tế đã sản xuất được các loại vaccin phòng bệnh đậu mùa, tả, thương hàn, bạch hầu, ho gà, uốn ván và bại liệt. Dịch đậu mùa, tả và dịch hạch đã được thanh toán và đẩy lùi. Ngành dược và vật tư y tế đã phát triển; mạng lưới quốc doanh dược phẩm Trung ương và địa phương đã được hình thành. Đã sản xuất được filatop, viên tô mộc, đạm thủy phân, cốm phytin, dextran,... Ngành y tế đã tổ chức cung ứng thuốc cho nhân dân đến tận xã theo phương châm "thuốc đến tận tay người bệnh". Y học cổ truyền trong giai đoạn này phát triển rõ rệt, góp phần đáng kể vào việc chữa bệnh cho nhân dân. Xây dựng mạng lưới y tế từ tuyến Trung ương đến các địa phương, đặc biệt là mạng lưới y tế tuyến cơ sở, y tế nông thôn, phục vụ mọi người dân, không phân biệt giàu nghèo.
Giai đoạn 1965-1975, cùng với cả nước, hoạt động toàn ngành y tế đã được chuyển hướng từ thời bình sang thời chiến, phục vụ chiến trường miền Nam, công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ được phát triển vượt bậc, hàng nghìn bác sĩ được chi viện cho chiến trường miền Nam.
Y tế miền Bắc là lực lượng chủ yếu chi viện cho chiến trường miền Nam. Trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, ngành y tế cách mạng Việt Nam vẫn được củng cố, phát triển, góp phần quan trọng vào sự thành công của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tại Hội nghị ngành y tế năm 1974, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khen ngợi "những thành tựu, những chiến công làm cho chúng ta tự hào, bởi vì chúng ta làm được những việc mà nơi khác không làm được, thậm chí ở những nơi giàu có hơn ta rất nhiều cũng không làm được".
Giai đoạn 1975-1985, ngành y tế tiếp tục thực hiện quan điểm công tác y tế phải gắn liền với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội, với hạnh phúc của nhân dân, y tế phải phục vụ sản xuất, đời sống nhân dân và bảo vệ Tổ quốc, kiên trì hoạt động theo hướng lấy y tế dự phòng là chính, kết hợp chặt chẽ y học hiện đại với y học cổ truyền, xây dựng nền y học Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Công tác y tế dự phòng được đặc biệt chú trọng, nhiều biện pháp phòng chống dịch, quản lý ổ dịch, dập tắt dịch, tiêm chủng rộng rãi theo lịch thống nhất đã được thực hiện thành công; đã xây dựng được một mạng lưới y tế cơ sở phổ cập khắp trong cả nước.
Công tác chữa bệnh trong giai đoạn này được tổ chức theo khu vực và theo tuyến. Phương thức này vừa thuận tiện cho người dân được đến khám, chữa bệnh tại một cơ sở y tế gần nhất, vừa sử dụng một cách hợp lý mạng lưới y tế hiện có.
Trong thời gian 1975-1985, bình quân mỗi năm có 1.400 bác sĩ, 400 dược sĩ, 4.000 cán bộ y trung học, 150 kỹ thuật viên trung học ra trường. Trường đại học Y Hà Nội, Trường đại học Dược Hà Nội và Trường đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh là cơ sở đào tạo chính của ngành y tế.
Công tác nghiên cứu khoa học trong giai đoạn này tập trung chủ yếu vào nghiên cứu y học như Điều tra cơ bản về tình hình sức khỏe, bệnh tật, đặc biệt là bệnh xã hội, Lựa chọn các phương pháp điều trị các bệnh nhiễm trùng ở Việt Nam, xây dựng và cải tiến các phác đồ điều trị. Đã tiến hành các công trình mổ gan khô, mổ ung thư vùng hạ họng, chữa bại liệt, viêm tắc động mạch bằng Đông y, nghiên cứu các loại vaccin phòng bại liệt trẻ em, viêm não Nhật Bản B, bệnh dại...
Thời kỳ Đổi mới, 1986-2000, ngành y tế đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố và phát triển, đặc biệt là cán bộ y tế xã, phường được hưởng phụ cấp hoặc lương như cán bộ y tế trong biên chế nhà nước. Công tác phòng bệnh và phòng chống dịch bệnh đã được triển khai mạnh mẽ và chủ động. Hệ thống khám chữa bệnh đã được đầu tư nâng cấp và thực sự có những tiến bộ mới. Thời kỳ này, thực hiện Nghị định 95/CP và 33/CP của Chính phủ về thu một phần viện phí và Nghị định 58/CP về bảo hiểm y tế. Mạng lưới y tế tư nhân có kiểm soát đã được phát triển nhanh chóng, với sự tăng số lượng các cơ sở y tế. Hệ thống y dược học cổ truyền được củng cố và phát triển. Công tác đào tạo đã chuyển biến tích cực, bước đầu đáp ứng nhu cầu cán bộ cho y tế cơ sở, cũng như cán bộ cho các chuyên khoa, y tế chuyên sâu. Công tác quản lý, sản xuất, cung ứng thuốc và trang thiết bị y tế đã có nhiều tiến bộ.
Các chỉ tiêu sức khỏe nhân dân ngày càng được cải thiện rõ rệt. Theo đánh giá của Cơ quan Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Việt Nam đứng vào hàng các nước có thành tựu nổi bật về y tế so với tổng sản phẩm quốc dân (GDP). Tuổi thọ trung bình đã tăng từ 65 tuổi năm 1989 lên 68 tuổi năm 1999. Các tỷ suất chết mẹ và trẻ em đã giảm xấp xỉ 2 lần trong vòng 10-15 năm. Năm 2000, tỷ lệ chết mẹ còn 0,8%o và tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi còn 36,7%o. Một số bệnh đã được thanh toán và loại trừ theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới...
Thành tựu có ý nghĩa nhất trong giai đoạn này là đã xây dựng được mạng lưới y tế cơ sở rộng khắp cả nước, từ Trung ương đến tỉnh, huyện, xã, từ đồng bằng trung du, các vùng xa xôi hẻo lánh đến tận biên giới hải đảo và đang mở rộng khắp thôn xóm bản làng với hơn 10.000 trạm y tế xã, y tế cơ quan xí nghiệp. Nhờ mạng lưới đó Việt Nam đã thực hiện được mục tiêu của Tổ chức Y tế Thế giới đề ra là: Sức khỏe cho mọi người năm 2000.
Nền y tế cách mạng còn làm biến đổi nhận thức tư tưởng của cán bộ y tế, xây dựng được đội ngũ cán bộ y tế có tri thức, có tinh thần trách nhiệm, hết sức mình chăm lo sức khỏe cho người dân, thương yêu người bệnh và sẵn sàng hy sinh tính mạng của mình vì sức khỏe nhân dân.
|
Trạm quân y dã chiến trong rừng. Ảnh: Võ An Khánh |
Giai đoạn từ năm 2000 đến 2009
Phát huy những kết quả đã đạt được trong thời kỳ đổi mới, ngành y tế tiếp tục được củng cố, kiện toàn và phát triển cho phù hợp với tình hình mới, khi nền kinh tế được chuyển hướng mạnh sang quản lý theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự ủng hộ và hợp tác tích cực của các bộ, ngành, đặc biệt là sự kiên trì phấn đấu, không ngại khó khăn, gian khổ của toàn thể cán bộ công chức, viên chức ngành y tế, sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân đã phát triển vượt bậc và thu được những thành quả to lớn.
Các chỉ tiêu sức khỏe của nhân dân được nâng lên rõ rệt và tốt hơn nhiều so với các nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người. Nước ta đứng vào hàng các nước có thành tựu nổi bật về y tế so với tổng thu nhập quốc dân, chỉ số phát triển con người của Việt Nam tiếp tục tăng lên trong suốt thập kỷ qua; chúng ta đã thanh toán được bệnh bại liệt, khống chế được bệnh uốn ván sơ sinh, sởi, ho gà, bạch hầu; tỷ suất chết mẹ, chết trẻ em giảm rõ rệt; tuổi thọ trung bình của Việt Nam đã đạt 72,8 tuổi. Đặc biệt năm 2009, lần đầu tiên ngành y tế hoàn thành vượt kế hoạch đối với 04/04 chỉ tiêu được Quốc hội giao, đáng chú ý là đạt được mức giảm sinh 0,2%o và hạ tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi xuống mức 18,9%. Ngành y tế cũng đã hoàn thành 15/15 chỉ tiêu được Chính phủ giao, trong đó có 6 chỉ tiêu được hoàn thành vượt kế hoạch, gồm chỉ tiêu về tuổi thọ trung bình (đạt 72,8 tuổi so với kế hoạch là 72 tuổi), tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi (đạt dưới mức kế hoạch là 16%), tỷ lệ trẻ đẻ có trọng lượng dưới 2,5kg (đạt 5,2% thấp hơn so với mức kế hoạch là 6%), tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng (đạt 18,9% thấp hơn so với mức kế hoạch là 19%), tỷ lệ bác sĩ trên 10.000 dân (đạt 7 bác sĩ cao hơn so với mức 6,5 bác sĩ theo kế hoạch) và tỷ lệ xã có trạm y tế (đạt 98,2% cao hơn mức kế hoạch là 98%).
Đã chủ động trong công tác phòng chống dịch bệnh. Nhiều bệnh dịch nguy hiểm đã được khống chế và đẩy lùi, như dịch tả, dịch hạch, sốt rét... Đặc biệt, chúng ta đã khống chế thành công dịch SARS, dịch cúm A/H5N1, dịch cúm A/H1N1 - những loại dịch bệnh cực kỳ nguy hiểm đến tính mạng và sức khỏe con người. Thành công này đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân đánh giá cao và nâng cao uy tín của ngành y tế Việt Nam trên thế giới.
Để giải quyết căn bản về cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đầu tư nguồn lực cho ngành y tế. Ngành y tế đã có những cố gắng vượt bậc để thực hiện thành công các nhiệm vụ được Chính phủ giao trong Quyết định số 47/2008/QĐ-TTg và Quyết định số 930/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đầu tư cơ sở vật chất bằng trái phiếu Chính phủ cho y tế tuyến huyện và tuyến tỉnh, phấn đấu năm 2011 hoàn thành việc xây dựng 621 bệnh viện đa khoa tuyến huyện và bệnh viện đa khoa khu vực liên huyện, và đến hết năm 2013 hoàn thành việc đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp 78 bệnh viện đa khoa tỉnh và Trung ương; 55 bệnh viện lao, 40 bệnh viện/trung tâm tâm thần, 33 bệnh viện nhi/sản nhi và 9 bệnh viện/trung tâm ung bướu, 7 khoa ung bướu của các bệnh viện đa khoa thuộc Bộ Y tế, thuộc các bệnh viện đa khoa tỉnh, thành phố, và một số đơn vị trực thuộc Bộ Y tế để đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân theo các chuyên khoa trên địa bàn. Đến cuối năm 2009, đã giải ngân được 90-95% số vốn thuộc kế hoạch 2008-2009 được giao; với tiến độ như hiện nay, đến cuối năm 2011 sẽ hoàn thành việc xây dựng 621 bệnh viện đa khoa tuyến huyện và khu vực liên huyện...
Công tác khám, chữa bệnh cũng có sự tiến bộ vượt bậc, không chỉ về đội ngũ y bác sĩ, mà cả về số lượng và chất lượng dịch vụ y tế. Nhiều tiến bộ kỹ thuật y học với công nghệ mới, hiện đại, tiên tiến của thế giới đã được ứng dụng thành công ở nhiều bệnh viện, như chẩn đoán hình ảnh, mổ nội soi, mổ tim hở, mổ đục thể tinh thủy bằng phương pháp Phaco, kỹ thuật mổ sọ não bằng dao Gamma, ứng dụng y học hạt nhân trong điều trị, thụ tinh trong ống nghiệm, ghép gan, thận, chẩn đoán và điều trị ung bướu,... Một số kỹ thuật chuyên môn cao đã được sử dụng thường xuyên trong nhiều bệnh viện tuyến tỉnh. Đặc biệt việc ứng dụng công nghệ thông tin trong chuyển giao công nghệ y học hiện đại và chỉ đạo kỹ thuật từ xa cho các bệnh viện tuyến dưới đã được thực hiện thành công và trở thành hoạt động thường xuyên của nhiều bệnh viện Trung ương. Các trung tâm y tế chuyên sâu tiếp tục được đầu tư và phát triển mạnh.
Nhằm nâng cao hơn nữa trình độ chuyên môn kỹ thuật và chất lượng khám, chữa bệnh của y tế tuyến tỉnh, huyện, năm 2009 Bộ Y tế đã triển khai Đề án "Cử cán bộ chuyên môn luân phiên từ bệnh viện tuyến trên về hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh", đã luân chuyển cán bộ tuyến trên xuống hỗ trợ kỹ thuật, và nâng cao năng lực khám, chữa bệnh cho các cơ sở y tế tuyến dưới, các cơ sở y tế ở vùng sâu, vùng xa. Sau một năm thực hiện đã đạt được kết quả rất đáng kể, đã có 1.846 lượt cán bộ tuyến trên được cử đi luân phiên cho y tế cơ sở của những vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa; 1.023 kỹ thuật thuộc 26 chuyên ngành được chuyển giao cho các bệnh viện tuyến tỉnh; khám và điều trị được trên 210.000 lượt bệnh nhân và phẫu thuật được gần 5.000 ca; đặc biệt giảm trung bình 30% tỷ lệ chuyển tuyến không hợp lý của các bệnh viện tuyến dưới.
Hệ thống văn bản luật, văn bản quy phạm pháp luật y tế đã dần được hoàn thiện. Cơ chế quản lý tài chính trong lĩnh vực y tế đã được nghiên cứu để đổi mới, nhằm huy động tối đa mọi nguồn vốn hợp pháp đầu tư xây dựng và phát triển các cơ sở y tế.
Công tác nghiên cứu khoa học được đẩy mạnh theo hướng đẩy mạnh ứng dụng những công nghệ, kỹ thuật y tế tiên tiến trên thế giới vào Việt Nam. Nhiều kết quả nghiên cứu đã được sử dụng trong chẩn đoán, điều trị, sản xuất dược phẩm mới và sản xuất một số loại vaccin và sinh phẩm. Công tác quản lý, sản xuất, cung ứng thuốc và trang thiết bị y tế đã được tăng cường. Ngành dược tiếp tục phát triển, đảm bảo cung ứng thường xuyên và đủ thuốc có chất lượng, giá hợp lý cho công tác phòng bệnh, chữa bệnh. Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm đã có nhiều tiến bộ và dần đi vào nền nếp.
Có những bước phát triển mạnh trong hợp tác quốc tế về lĩnh vực y tế. Mối quan hệ hợp tác song phương và đa phương giữa ngành y tế Việt Nam với các nước và các tổ chức quốc tế ngày càng phát triển và mở rộng hoạt động, góp phần quan trọng vào sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Việt Nam.
Từ những thành tích đã đạt được trong 55 năm qua, nhiều đơn vị y tế thuộc các khối: khám chữa bệnh, dược, y tế dự phòng, đào tạo đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới. Đến nay toàn ngành được tặng 3 Huân chương Sao vàng, 7 Huân chương Hồ Chí Minh và 12.000 huân chương, huy chương khác; có 186 thầy thuốc được phong tặng danh hiệu Thầy thuốc nhân dân, 4355 Thầy thuốc ưu tú, 64 Nhà giáo nhân dân, 249 Nhà giáo ưu tú, 78 tập thể và 83 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, Anh hùng Lực lượng vũ trang, hàng trăm chiến sĩ thi đua toàn quốc và cấp bộ. Có 16 đơn vị được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh, 15 đơn vị được nhận Giải thưởng Nhà nước về khoa học, 3 cá nhân và 2 tập thể nữ được nhận giải thưởng quốc tế Kovalepskaia.
55 năm thực hiện lời dạy của Bác, các thế hệ thầy thuốc Việt Nam đã không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, vươn lên, vượt mọi khó khăn, gian khổ, đoàn kết, cùng nhau xây dựng ngành y tế cách mạng Việt Nam ngày càng phát triển và mang đậm tính "khoa học, dân tộc và đại chúng" như lời căn dặn của Bác. Ngành y tế xin kính dâng lên Bác những thành quả đã đạt được ngày hôm nay và xin nguyện hứa với Bác sẽ tiếp tục làm hết sức mình để thực hiện cho được lời dạy của Bác: "Thầy thuốc phải như mẹ hiền".