Việt Nam sở hữu nhiều di sản thế giới

Văn hóa – Giải trí
Đến nay, Việt Nam đã trở thành "chủ sở hữu" của nhiều di sản thế giới do UNESCO công nhận. Vinh dự này đồng thời đặt ra nhiệm vụ nặng nề cho các cơ quan làm công tác bảo tồn di sản.

Đến nay, Việt Nam đã trở thành "chủ sở hữu" của nhiều di sản thế giới do UNESCO công nhận. Vinh dự này đồng thời đặt ra nhiệm vụ nặng nề cho các cơ quan làm công tác bảo tồn di sản. Muốn làm tốt nhiệm vụ, ngoài việc tận dụng tối đa nội lực, chúng ta cần tranh thủ sự hỗ trợ từ phía các nước bạn và các tổ chức quốc tế.

Những thành công ngoài mong đợi

Nếu ai đã đến Cố đô Huế, vào thăm cung An Định, chắc hẳn sẽ biết toàn bộ hệ thống tranh tường và trần cũng như trang trí nội thất trong di tích này đều do chính tay các chuyên gia hàng đầu đến từ châu Âu bảo tồn và phục dựng. Dự án bảo tồn tranh tường và phục dựng nội thất cung An Định vốn được đánh giá là khó thực hiện vì công việc đòi hỏi phải có sự tu bổ khoa học và chuyên môn cao, nhất là việc phục hồi 6 bức tranh tường ở sảnh chính Khải Tường Lâu. Trong khi đó, tại Việt Nam nói chung và ở khu vực Huế nói riêng, chưa có một chuyên gia hay nghệ nhân nào giỏi về lĩnh vực này.

May mắn thay, dự án đã được các chuyên gia Hiệp hội giao lưu văn hóa Leibniz (Berlin, Đức), đứng đầu là ông Thomas Ulbrich - chuyên gia về lịch sử nghệ thuật châu Á, Phó Giám đốc Hiệp hội nhận lời giúp đỡ. Đức là quốc gia còn lưu giữ nhiều công trình và tác phẩm nghệ thuật cổ, cũng là nơi có công nghệ bảo tồn và phục chế di sản phát triển ở trình độ cao trên thế giới. Sau 5 năm (từ 2004), với sự giúp đỡ của các chuyên gia tình nguyện viên người Đức, dự án đã hoàn tất. Không chỉ hỗ trợ về mặt nhân lực và kỹ thuật, những người bạn Đức còn xin tài trợ từ chính phủ CHLB Đức với số vốn lên đến hơn 400.000 euro cho dự án này đồng thời tiến hành đào tạo chuyển giao kỹ thuật phục hồi tác phẩm nghệ thuật theo tiêu chuẩn quốc tế cho hàng chục chuyên gia bảo tồn bảo tàng của Việt Nam.

Cho đến nay, hầu hết các di sản cấp quốc gia, đặc biệt là các di sản thế giới tại Việt Nam như Cố đô Huế, phố cổ Hội An, di tích Mỹ Sơn, Hoàng thành Thăng Long... đều có dấu ấn của sự hợp tác giúp đỡ quốc tế trong phục hồi và bảo tồn. Nhật Bản được ghi nhận là quốc gia tích cực nhất hỗ trợ Việt Nam cả về tài chính lẫn nhân lực để bảo tồn di sản văn hóa. Trong những năm từ 1980 đến nay, các chuyên gia bảo tồn bảo tàng Nhật Bản đã có mặt tại các trung tâm di sản của Việt Nam. Chính họ là những người đóng góp nhiều công, nhiều của nhất giúp Việt Nam khôi phục, bảo tồn, bảo vệ thành công Cố đô Huế và phố cổ Hội An, đưa hai di sản này trở thành di sản văn hóa thế giới.

Từ khi Việt Nam là thành viên chính thức của WTO và ngày càng có thêm nhiều di sản được thế giới công nhận, chúng ta càng nhận được nhiều sự quan tâm từ phía quốc tế trong công tác bảo tồn, phát huy di sản. Chỉ tính riêng khu di tích Mỹ Sơn, trong 5 năm trở lại đây, tổng kinh phí đầu tư tu bổ bảo tồn là 86 tỷ đồng, trong đó có tới trên 60 tỷ đồng từ nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế. Gần đây nhất, di sản này vừa nhận khoản tài trợ không hoàn lại 435.183 USD cho dự án Bảo tồn giai đoạn 2 từ chính phủ Italia...

 Di sản Mỹ Sơn nhận được hơn 60 tỷ đồng từ tài trợ quốc tế.

Bài học quý từ các chuyên gia nước ngoài

Để có được sự giúp đỡ to lớn này, một phần là do chính sách hợp tác quốc tế trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Việt Nam trong những năm qua tương đối thông thoáng, bởi vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ của nước ngoài quan tâm tới việc bảo tồn di sản của Việt Nam. Tuy nhiên hiện nay, một trong những điều kiện đưa ra trong nhiều thỏa thuận hợp tác quốc tế là vốn đối ứng (vốn từ ngân sách Nhà nước và từ các nguồn xã hội hóa). Hơn nữa, việc huy động, kêu gọi tài trợ từ phía nước ngoài ngày càng trở nên khó khăn hơn, bởi các nhà đầu tư ngày càng chặt chẽ trong việc chi tiền. Với họ đồng tiền cho dự án không phải dùng thế nào thì dùng, mà phải có hiệu quả rõ rệt.

Ông Chu Shiu-Kee, Trưởng đại diện văn phòng UNESCO tại Hà Nội cho rằng mấu chốt để thành công trong việc huy động các nguồn ngoại lực để bảo tồn di sản nằm ở việc lập dự án kêu gọi đầu tư. "Tôi có một lời khuyên là các bạn nên trình bày một cách cụ thể và rõ ràng trong dự án kêu gọi đầu tư. Hãy nói rõ là bạn muốn kêu gọi đầu tư vào việc bảo tồn di sản nào. Các bạn cũng phải đảm bảo việc bảo tồn di sản được kết hợp các kế hoạch phát triển du lịch, xây dựng cơ sở hạ tầng, khu định cư... ".

Tiến sĩ Frank Proschan - chuyên gia Viện bảo vệ Di sản Hoa Kỳ -  người đã có nhiều năm giúp đỡ Việt Nam trong lĩnh vực bảo tồn bảo tàng chia sẻ 7 bí quyết khiến các tổ chức quốc tế, hay bản thân ông đồng ý hợp tác. Đó là: Tài chính rõ ràng và phân minh; Có thể tin cậy và có khả năng dự đoán, vì kết quả sau cùng là cái gì; Có trách nhiệm và quan tâm; Phản hồi nhanh chóng và chủ động; Sáng kiến và có óc tưởng tượng; Linh hoạt và cởi mở, sẵn sàng tiếp cận, tiếp thu những phương pháp mới; Nhìn xa và nghĩ xa.

Theo Tiến sĩ Đặng Văn Bài - nguyên Cục trưởng Cục Di sản văn hóa, với thế mạnh là nước sở tại có nhiều di sản độc đáo và trên cơ sở phát huy những thành quả đã nhận được từ hợp tác quốc tế, công việc tiếp theo của chúng ta là giải tốt bài toán "năng lực thủ tục hành chính vốn đối ứng = hợp tác thuận lợi", được vậy thì chắc chắn các di sản văn hóa của Việt Nam sẽ ngày càng được bảo tồn và phát triển bền vững, được bạn bè thế giới đón nhận và tôn vinh.          

Bảo Trân


Ý kiến của bạn