Về nơi "chưa mưa đà thấm"

Xã hội
Nhắc đến Quảng Nam, không mấy người không biết đến câu ca: "Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm. Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say".

Nhắc đến Quảng Nam, không mấy người không biết đến câu ca: "Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm. Rượu Hồng Đào chưa nhấm đà say". Sở hữu một sản phẩm "vật chất hóa một đặc sản tinh thần" là rượu Hồng Đào, vùng rừng núi Trà My của Quảng Nam còn nổi tiếng bởi sâm Ngọc Linh, quế Trà My, mưa và thủy điện. Trà My là tâm mưa thứ hai của cả nước, chỉ sau Bạch Mã... Dù giàu nhiều thứ nhưng Nam Trà My lại vẫn nằm trong "top" của 61 huyện nghèo nhất nước.

Con đường từ trung tâm huyện Bắc Trà My lên thị trấn Tắc Pỏ (huyện Nam Trà My, Quảng Nam) càng đi càng mù mịt. Tôi đã đi nhiều huyện miền núi, từ Sơn Tây của Quảng Ngãi, Hướng Hóa của Quảng Trị, Bác Ái của Ninh Thuận... nhưng chưa thấy con đường nào thăm thẳm và hoang vu như thế. Gần 50km đường núi tịnh không một bóng người, chỉ toàn núi và núi, những vòng "eo" thon nhọn quanh co khúc khuỷu của con đường quanh triền núi khiến chiếc xe lắc lư, đảo qua đảo lại liên hồi. Chưa hết, trên mặt đường, đất đá lởm chởm do lở núi khiến con đường dài như vô tận.

 Những con suối đẹp như những bức tranh thuỷ mặc.
Túi... mưa của cả nước

Còn nhớ, lần chúng tôi đi thực tế tại công trình thủy điện sông Tranh 2, đã được các anh ở Ban quản lý dự án thủy điện 3 dặn đi dặn lại: "Phải tranh thủ xuống công trình vào buổi sáng, chứ đến chiều là chịu chết". Người được dặn dò tuy ngoài miệng thì dạ nhưng trong lòng không khỏi cười thầm. Lên đến Ban chỉ huy công trình thì đã quá trưa, đầu giờ chiều chúng tôi sửa soạn xuống công trình thì trời đổ mưa giông, dù trước đó nắng như đổ lửa. Anh Nguyễn Bá Tùng - chỉ huy trưởng công trình của Công ty Licogi 10 trên công trường Thủy điện sông Tranh 2, nhớ lại: "Thời điểm khó khăn nhất của cả công trường là từ tháng 9/2006 đến tháng 2/2007. Đây là giai đoạn cao điểm của mùa mưa ở núi rừng Trà My - tâm mưa thứ hai của cả nước, chỉ xếp sau Bạch Mã. Suốt cả tháng 1/2007, tại công trường xây dựng chỉ có 6 ngày trời hửng nắng, còn nữa là mưa trắng xóa đất trời, các ngả đường trên công trường nhão nhoét, lầy lội, máy bơm nước được huy động tối đa". Ông Nguyễn Văn Điền - Phó Chủ tịch huyện Nam Trà My kể chuyện với phóng viên mà như... trách ông trời: cứ chiều đến, bất kể mùa nào, là trời lại đổ mưa giông, mưa cứ rả rích rả rích kéo dài suốt mấy tiếng đồng hồ. Mưa ở đây cũng không thể đo, đong, đếm được. Mưa ngớt thì bóng đêm cũng đổ sập xuống, dù muốn dù không cũng không thể xuống các thôn bản vào buổi chiều. Mưa đồng nghĩa với tắc đường và cô lập. Công việc vì vậy cũng ách tắc lại phần nào. Ông Điền nói, ở đâu người ta đo được lượng mưa, chớ ở Nam Trà My thì chịu, vì không cách gì đo nổi lượng mưa. "Rứa mới được mệnh danh giàu mưa nhất nhì Việt Nam!".

Từ đầu tháng 11, toàn huyện Nam Trà My bắt đầu tập kết hàng hóa, lương thực, thuốc men để... sống chung với bão lũ. Mỗi xã được bổ sung dự trữ 5-10 tấn lương thực. Ở đâu gọi là "phòng chống bão", còn ở Nam Trà My, chỉ có thể gọi là "tránh bão". Mưa xuống, núi lở, sông ngập, có chống đằng... trời. Đến khoảng giữa tháng 11, khi những cơn mưa xối xả, thối đất thối cát đổ ập xuống, thì tất cả mọi hoạt động của huyện đều dừng lại, hoàn toàn rơi vào tình trạng cô lập, không thể di chuyển đi bất cứ đâu trên toàn bộ 10/10 xã của Nam Trà My. Lại càng không thể đi ra khỏi huyện vì những tuyến đường giao thông - chủ yếu là xuyên qua núi đều bị lở nát. "Giờ đó có trực thăng lên cũng chịu chớ đừng nói chi đến phương tiện khác. Mỗi cơ quan, đoàn thể đều tự thân vận động, tự lo cho mình là chính!" - ông Điền nói chắc như "đinh đóng cột". Những sự cố xảy ra ở Nam Trà My do bão lũ, muốn khắc phục, nhanh nhất là 1 tuần, nhưng có thể kéo dài nửa tháng, có khi cả tháng. Địa hình, thời tiết khắc nghiệt khiến cho thời gian nghỉ của các cơ quan hành chính Nam Trà My đến 1 tháng trời, có khi hơn - tùy vào những đợt giông bão dài hay ngắn ngày. Những công trình xây dựng ở Nam Trà My đắt đỏ cũng vào hàng nhất Việt Nam. Ví như một đoạn đường chỉ chừng 500m lên xã Trà Nam cũng phải mất hơn 14 tỷ đồng, bởi phải đục núi, xẻ đá. Làm đường thì khó, mà lở đường thì cực... dễ. Bà con dân tộc của huyện Nam Trà My tự mình xoay sở là chính, thậm chí kinh nghiệm phòng chống lụt bão của bà con lại trở thành "kim chỉ nam" để học theo mà... tránh bão. Nói về bí quyết này, già làng Thời, xã Trà Dơn bảo: cứ thấy nước rỉ ra từ núi có màu đỏ đỏ tức là sắp có sạt lở núi, thấy rễ cây màu trắng mọc dài ra thì chuẩn bị có nước lớn, thấy ong vò vẽ làm tổ trên cao thì lụt lớn, dưới thấp thì sẽ có bão... cùng nhiều kinh nghiệm khác mà áp dụng thử, chưa bao giờ thấy sai!

 Cầu treo ở Nam Trà My.
Nhà nghèo giữ của quý

Có lẽ vì giàu mưa nên không nơi đâu nhiều sông suối như Nam Trà My. Trà My có vô số những con suối đẹp như bức tranh thủy mặc. Đặc biệt nhất phải kể đến con thác 5 tầng nằm ngay trên con đường từ Trà Dơn lên thị trấn Tắc Pỏ, được xem là niềm hãnh diện của người Nam Trà My - đẹp như chốn bồng lai. Rừng nguyên sinh thì Nam Trà My rất dồi dào. Nếu phát triển du lịch sông suối, rừng nguyên sinh thì Nam Trà My có thể trở thành nơi tham quan đáng cạnh tranh.

Nhiều sông nên mật độ các công trình thủy điện ở Nam Trà My cũng dày đặc. 13 công trình đang có mặt tại Nam Trà My, và sắp tới, sẽ tiếp tục có nhiều công trình thủy điện nữa được xây dựng ở đây. Khi hệ thống thủy điện bậc thang được hoàn thành, chắc chắn người dân miền Trung sẽ bớt lo chuyện lũ lụt. Còn ngành điện cũng đỡ một phần gánh nặng thiếu hụt điện năng cho sản xuất và sinh hoạt.

Giàu thủy điện, giàu sông suối, tài nguyên, Nam Trà My còn nổi tiếng với cây sâm Ngọc Linh. Không ít gia đình ở xã Trà Linh (Nam Trà My) có tiền tỷ trong tay nhờ sâm Ngọc Linh, nhưng việc phát triển loại cây quý này như thế nào để mang lại nguồn thu kinh tế cho Nam Trà My vẫn là bài toán mà lời giải còn dang dở. Một loại cây quý nữa chỉ ở Nam Trà My mới có chất lượng đỉnh cao là quế Trà My- loại quế đặc biệt có tinh dầu dồi dào, những năm về trước, kinh tế vùng này rất khá nhờ quế xuất khẩu đi các nước Nga, Trung Quốc... Những năm 1980 - 1982, những hộ dân ở Nam Trà My thừa tiền để mua một lúc mấy chiếc xe máy - thứ mà người dân đồng bằng những năm đó chỉ dám ao ước. Nhưng thời đó đường sá không có, nên tiền của đổ vào mua heo, bò, làm nhà và... uống rượu. Những năm gần đây, cây quế mất giá nhưng người dân vùng này vẫn trồng quế, mỗi gia đình trồng tích lũy mỗi năm từ 300-500 cây quế với hy vọng một ngày không xa, quế sẽ có giá cao trở lại. Nam Trà My vì thế được ví như "nhà nghèo giữ của quý" khi 10/10 xã của huyện đều nằm trong diện "đặc biệt khó khăn", số hộ đói nghèo theo chuẩn mới chiếm 65,51%; bình quân thu nhập đầu người là 1,8 triệu đồng năm (tương đương với mức 150.000đ/tháng/người - PV).

 Trẻ con và phụ nữ ở Trà My ít được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc y tế.
Ông Hồ Văn Ny - Chủ tịch huyện Nam Trà My phân bua: "Nói thiệt là so với hồi mới chia tách huyện, Nam Trà My đã tiến một bước dài. Nhờ có những chính sách dân tộc 134, 135, 133 nên dân Nam Trà My mới có nhà ở, có nước sinh hoạt và có lương thực để sống. Nhưng hàng trăm tỷ đồng đổ vào một huyện miền núi phải trở về từ điểm xuất phát thì cũng không thấm vào đâu. Nhu cầu nguồn kinh phí đầu tư đến năm 2010 - 2015 của huyện là 2.178 tỷ đồng để xây dựng giao thông, thủy lợi, điện, trường học, y tế... Vấn đề cấp bách nhất của Nam Trà My là đường sá, 13 tuyến đường huyện và 39 tuyến đường xã đang cần nguồn kinh phí hơn 1.607 tỷ đồng". Chính vì vậy mà khi nghe các Chương trình 134, 135 sẽ kết thúc, "toàn thể cán bộ huyện lo sốt vó, không có 135, chúng tôi chỉ có nước... chết! Con số chỉ tiêu đặt ra giảm tỷ lệ hộ nghèo mỗi năm xuống 5-7% là... không tưởng đối với Nam Trà My; 3-4% còn không có hy vọng đạt được!" - ông Ny nói mà như than.

Chúng tôi rời Nam Trà My trong một chiều mưa giăng mịt mùng, con đường nhão nhoẹt bùn đất cứ lùi dần vào rừng núi âm u. Và hiểu tại sao, nơi giàu tài nguyên, đặc sản như Nam Trà My, lại vẫn là một trong 61 huyện nghèo nhất nước.

Phóng sự của Hà An


Ý kiến của bạn