"Đẻ nhiều, nghèo đói và thất học", đó là điệp khúc của người dân ở Mà Xa Phìn (Văn Bàn - Lào Cai). Tuy chỉ cách trung tâm huyện 50 km nhưng từ lâu, người Mông nơi đây đã quen với cuộc sống có quá nhiều cái… không: không chợ, không đường, không điện, không thông tin liên lạc… thế nên con đường đến trường học chữ của những đứa trẻ nơi đây vất vả hơn những nơi khác rất nhiều.
Giấc mơ về một con đường
"Ngẩng nhìn núi cao, rơi nước mắt/Cúi nhìn vực thẳm, toát mồ hôi".
Trước khi hỏi đường lên tới bản Mông, một người dân đã thách thức chúng tôi bằng câu thơ như vậy, họ còn nói: "đường đi khó ngay cả những người quen thuộc nhất cũng thấy sợ hãi".
Lên Mà Xa Phìn chỉ bằng một con đường độc đạo. Nghe người dân kể lại, con đường chỉ được hình thành cuối năm 2006 cũng là nhờ mỏ thăm dò địa chất làm để tiện cho việc vận chuyển. Một người dân buồn bã tâm sự: "Nếu không có mỏ địa chất thì không biết tới khi nào nơi đây mới có đường". Nói là đường nhưng thực ra chỉ có xe máy là đi được thôi. Chỗ thì toàn đá hộc với những viên đá to như quả bóng đi mà vấp phải thì chỉ có... tóe máu, chỗ toàn là bùn lầy ngập cả bánh xe. Hai bên đường thì một bên là núi đá, một bên là những vực sâu hoắm, thỉnh thoảng lại có những con suối vắt ngang qua đường luôn mang trong mình sự hung dữ mỗi khi mùa mưa đến. Con đường như vậy vào những ngày nắng cũng vật vã mới leo lên được, chứ ngày mưa thì chỉ có chống gậy mà... bò. Chính vì vậy nên chiếc xe máy được người dân lựa chọn nhiều nhất vẫn là xe Win, một loại xe gầm cao có thể vượt ghềnh cao, suối sâu và chở được nhiều hàng hóa.
Thật không may cho chúng tôi, đi đến giữa đường thì gặp mưa rừng. Con đường đất bỗng chốc trở nên nhầy nhụa. Xe về số một mà vẫn cần người đẩy cật lực mới lên được con dốc có tên gọi: Hang Đói. Sự tích về con dốc này khiến những ai đã từng được nghe đều cảm thấy sợ hãi. Vào ban ngày còn đỡ chứ vào buổi tối không ai dám qua đây một mình. Mấy bác thợ săn người Mông bảo đây là: "cung đường chết", vì đã có quá nhiều người Mông nằm lại nơi đây như một "cái dớt". Họ giải thích: Ở đây có con "ma đói", mỗi lần đi qua phải bẻ một cành cây ném xuống vực làm "lộ phí". Chỉ cần nhìn vào đống cành cây đó là biết ngay có bao nhiêu người đã đi qua nơi này!
Cuối cùng, xe chúng tôi cũng lên được đỉnh nhờ sự giúp đỡ của một người dân địa phương. Ai nấy mồ hôi nhễ nhại, một phần vì đẩy xe, một phần vì nhìn xuống vực cao chừng vài trăm mét. Các ánh mắt săm soi, ngơ ngác nhìn chúng tôi một cách dò hỏi. Nhìn gương mặt họ vẫn còn vẻ hoang sơ chưa bị tác động trong thời buổi kinh tế thị trường nhưng có lẽ vì vậy mà họ khổ, vất vả đủ đường.
|
Giờ vui chơi của trẻ em Trường tiểu học Mà Xa Phìn. |
Nhọc nhằn mưu sinh
Nằm rải rác ở những khe núi là thung lũng, nơi đó là cuộc sống của 88 hộ người Mông. Những mái nhà xiêu vẹo như thách thức với sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Chúng tôi vào thăm nhà trưởng bản còn rất trẻ Lù A Súa, ngôi nhà nằm cheo leo ở lưng đồi, chiếc ti vi đen trắng là thứ tài sản quý giá nhất trong căn nhà. Thấy tôi đưa mắt quan sát bộ ấm chén sứt mẻ, vài chiếc bát mỗi cái một kiểu, anh Súa ái ngại, giải thích: "Ở trên này muốn mua được một món đồ cũng phải ra tận chợ huyện cách đây chừng 50 cây số cơ... ". Nhưng dù sao nhà anh Súa vẫn là 1 trong 10 hộ "khá giả" vì có điện nước để sử dụng được ti vi. Nằm đối diện nhà anh Súa là nhà ông Phà A Chiến. Trong túp lều lụp xụp chưa đầy 30 mét vuông là cuộc sống của 6 con người. Cả 4 đứa con đều trong độ tuổi đi học nhưng thay vì đến trường, chúng lại phải nhọc nhằn mưu sinh cùng cha mẹ trên những thửa ruộng cằn cỗi. Tựa cửa nhìn ra khoảng không đầy sương mù, đôi mắt ông đượm buồn như bất lực trước cái đói nghèo.
Bản có hơn 600 nhân khẩu nhưng đất canh tác chỉ khoảng hơn 20ha diện tích ruộng bậc thang, lại cằn cỗi toàn đá sỏi. Gió Lào và sương mù là tất cả những gì thiên nhiên "ban tặng" cho vùng đất này. Mỗi năm chỉ canh tác được một vụ. Mùa thảo quả chính là mùa nhộn nhịp nhất trong năm khi các thương lái ở nơi khác đến thu mua. Nhưng đa số hộ dân ở đây đều phải bán non, có nghĩa là để có tiền trang trải cho sinh hoạt, họ phải vay tiền với lãi suất cao của các thương nhân, sau đó phải bán cho họ thảo quả non với giá rẻ hơn giá thị trường.
Hai năm trở lại đây, họ có thêm một nghề để mưu sinh, đó là gùi hàng thuê lên lán cho các mỏ địa chất. Tuy vậy, thu nhập cũng chẳng được là bao vì: "Hàng gùi thì ít, còn người làm thuê lại... quá nhiều, có khi đợi cả ngày cũng chẳng có chuyến nào" - anh Giàng A Cù buồn bã tâm sự.
“Bản người Mông còn khó khăn lắm!”, anh Súa tâm sự. Mỗi lần ốm đau bệnh tật người dân toàn tự chữa bằng các loại thuốc nam. Đáng buồn hơn, đại đa số bộ phận người dân vẫn còn đặt cả sinh mệnh của mình vào những ông thầy cúng lúc ốm đau. Và thực tế đã có nhiều cái chết thương tâm vì hủ tục đó. Người dân vẫn chưa quên được cái chết thương tâm của em bé mới 3 tuổi, con của Phà Thị Dụ, chỉ vì đau bụng mà cha mẹ em thay vì mang xuống trạm y tế lại đặt niềm tin cho ông thầy bói, rồi em đã ra đi sau đó hai ngày...
Tôi còn phát hiện ra nơi đây không có chợ. Cả bản chỉ có hai quán duy nhất của người Kinh từ huyện lên bày bán lèo tèo vài thứ. Khỏi phải nói, hàng hóa thì đắt gấp ba, bốn lần so với ở ngoài chợ huyện. Do vậy, cuộc sống của người dân vẫn mang nặng tính tự cung, tự cấp.
|
Ngoài giờ học, các em tham gia làm ruộng. |
Vén mây mù đi tìm con chữ
Khuôn mặt của anh Súa bỗng dưng trầm xuống khi tôi hỏi chuyện học. Anh tâm sự: "Cái đói nghèo khiến người dân không mấy thiết tha với con chữ". Một điều đáng buồn là cả bản chưa ai học hết phổ thông, đa số các em mới chỉ học hết tiểu học, sau đó nghỉ học, một phần vì trường cấp II nằm cách bản tới gần 10 cây số với bao đèo dốc, một phần vì chúng chính là nguồn lao động dồi dào trong gia đình. Thật xót xa khi không khó để ta có thể bắt gặp hình ảnh những đứa trẻ mới 9-10 tuổi đã phải đóng vai trò là một người thợ cày- một người thợ cày rất chuyên nghiệp với những đường cày thẳng tắp.
Pùa và Vả là hai trong số ít học sinh được học lên cấp 2. Ở tuổi của chúng, nếu không đi học thì ở nhà bố mẹ cũng nuôi thêm con trâu, con lợn để chuẩn bị sắm lễ hỏi vợ cho chúng, rồi sau đó cả đời phải "trung thành" với những mảnh ruộng cằn cỗi. Người Mông nơi đâu chẳng vậy. Có lẽ cha mẹ các em là điển hình trong số không nhiều lắm những người có tầm mắt vượt qua mây mù, núi thẳm, rừng hoang. Họ biết nếu không dứt được hủ tục, đói nghèo, không cho con em mình bám lấy cái chữ thì chắc hẳn đời chúng sẽ cơ cực lắm!
Cứ đầu tuần là những đôi chân trần đó lại lon ton xuống núi, hành trang mang theo ngoài chiếc cặp sách nặng trĩu, còn có một vài cân gạo có màu xám xoẹt. Chỉ gạo không thôi! Có khi còn có thêm vài chú chuột đồng mà chúng đã bẫy được, mang xuống làm thức ăn bổ sung nguồn đạm...
Khổ là vậy nhưng khi hỏi chuyện, chúng chỉ cười khúc khích, chúng bảo: "Đi học thích lắm! Không về đây lấy chữ thì ở nhà phải leo núi mỏi chân, cuốc rẫy phồng tay". Có lẽ thấy được "cái sướng" của mình mà chúng học chăm lắm! Cứ tối đến, khi cơm đã ấm cái bụng thì chúng lại rủ nhau học bài.
Chia tay mảnh đất Mà Xa Phìn khi từng khối sương đã phủ kín các nóc nhà, mây và gió vẫn trôi cùng với cuộc sống bình dị vốn có của người dân, trong lòng chúng tôi cứ day dứt mãi khi bắt gặp ánh mắt của những đứa trẻ, dường như chúng đã biết khát chữ và sự gửi gắm tâm sự của người dân về một giấc mơ có con đường. Con đường ở đây không chỉ đơn thuần là lối đi lại để giao thương với cuộc sống bên ngoài mà còn là con đường để thoát nghèo, đường dẫn các em đến một tương lai tươi sáng...
Bài và ảnh: Thu Phương