(SKDS) - Thuật ngữ placebo có trong từ điển y học 1894, để chỉ giả dược (thuốc vờ) giống hệt thuốc thật song không chứa hoạt chất chữa bệnh. Placebo làm người bệnh có niềm tin là dùng "thuốc thật" nên từ 1785 được định nghĩa là thuốc gây niềm tin (make-believe medicine). Sau này placebo còn mở rộng, bao gồm cả những điều tạo niềm tin như uy tín, thái độ tận tình, sự khích lệ của thầy thuốc, gọi chung là hiệu ứng plaebo.
Những thử nghiệm lạ lùng, đem lại kết quả bất ngờ!
Khoảng 40 năm trước, BS. Kenneth B. Thomas (Anh) đã làm một thử nghiệm trên 200 người có đặc tính chung là không hề có bất cứ một triệu chứng bất thường nào về thực thể, song họ cảm thấy người không được khỏe, tâm trạng chán nản, người Anh đã ví von là "under the weather". Ông chia họ thành: nhóm 1 thông báo cho biết đã chẩn đoán được bệnh, chỉ cần điều trị thời gian ngắn là khỏi (khích lệ, hứa hẹn); nhóm 2 thông báo cho biết là không chẩn đoán ra bệnh, không chắc chắn bao giờ bệnh sẽ được chữa khỏi (không khích lệ, hứa hẹn). Kết quả 2 tuần sau, nhóm 1 có 64% khỏi bệnh trong khi tỷ lệ này ở nhóm 2 chỉ là 39%. Thập niên 60, các thầy thuốc lâm sàng nhận thấy dùng liệu pháp cắt bỏ hạch động mạch cảnh dự phòng hen, dùng chloroform trị herpes có hiệu quả tới 70%. Thế nhưng, các nghiên cứu thực nghiệm sau đó của ĐH San Diego (Mỹ) chứng minh các liệu pháp trên không hề có giá trị ấy. Vậy lý do gì làm cho những người trên khỏi bệnh?
![]() Sự quan tâm, chăm sóc tận tình của thầy thuốc sẽ giúp người bệnh có niềm tin khỏi bệnh. |
Vì sao placebo có hiệu ứng chữa bệnh?
Từ xa xưa, Đức Phật Thích Ca (560 - 480 trước CN ) nói "Tất cả đều từ tâm trí mà ra". Gần hơn, Decartes (1596-1650 sau CN) cũng bảo: "Nghĩ sao là có vậy". Minh triết của các bậc vĩ nhân xưa cũng rất sát với ý niệm y học hiện đại: tác động của thần kinh (tích cực hay tiêu cực) quyết định mọi trạng thái tương ứng của cơ thể (khỏe mạnh hay bệnh tật). Đầu thế kỷ 20, nhà sinh lý Pavlov chứng minh sự hiện hữu của "phản xạ có điều kiện". Theo đó, động vật, con người có thể "ghi nhớ" các tình huống xảy ra trước đó (có điều kiện) để về sau điều chỉnh các chức năng khác trong cơ thể khi tình huống như thế lặp lại. Từ các hiểu biết trên, các nhà khoa học đưa ra 3 giả thuyết giải thích hiệu ứng placebo:
Thuyết thói quen
: Lần trước được điều trị trong môi trường y khoa tốt (thầy thuốc chu đáo tận tụy, thuốc men đầy đủ) nên khỏi bệnh. Lần sau đến lại nơi ấy, người bệnh nhớ lại môi trường y khoa cũ mà mình từng thụ hưởng thì cũng sẽ đỡ bệnh.Thuyết sinh hóa:
Khi dùng placebo, người bệnh đinh ninh nghĩ rằng mình đang được thầy thuốc cho "thuốc thật", có niềm tin mình được chữa bệnh... thì thần kinh sẽ hoạt động kết hợp với nội tiết tạo ra endorphin nội sinh làm giảm đau, đỡ bệnh.Thuyết nâng đỡ:
Người bệnh ở trong trạng thái căng thẳng về bệnh tật. Cho dùng placebo (khích lệ, hứa hẹn) thì họ đinh ninh rằng mình đang được điều trị với thầy tốt thuốc tốt, cảm giác được nâng đỡ ấy từ thần kinh sẽ khởi động các hoạt động các cơ phận theo hướng giải tỏa căng thẳng, dẫn tới đỡ bệnh.DSCKII. Bùi Văn Uy
