Người đàn ông cao 1m70, 70kg ngoài 85 tuổi tóc mới hoa râm, dáng dấp phong trần, gầy gầy mà chắc nịch, da sạm nắng, chiếc xe máy "chợ giời" bành bạch kêu, tóe khói, đằng trước đằng sau buộc chằng chịt những gói nilông hẳn là thực phẩm. Ông tiến vào phòng tôi, nở nụ cười hiền lành.
Tôi sửng sốt nhận ra ông Đặng Văn Việt, thuở nhỏ đi hướng đạo, sau nổi danh vì đánh du kích thời đầu kháng chiến chống Pháp.
Tôi nhớ lại năm 1950, tôi từ khu 3 lên chiến khu Việt Bắc nhận nhiệm vụ Trưởng ban giáo dục tù hàng binh Âu Phi. Sau chiến thắng Biên giới, ta có đến hàng nghìn tù binh ở rải rác các trại tại các bản người thiểu số Cao Bằng, Tuyên Quang. Tôi cùng anh bạn trung tá người Đức thường có dịp đi thăm và nói chuyện các trại, đặc biệt Trại sĩ quan trong có các quan năm CHARTON và LEPAGE do Trung đoàn 174 của anh Việt bắt được. Họ được hưởng chính sách khoan hồng của Hồ Chủ tịch, ở lẫn với bộ đội và nhân dân ta. Hẳn tất cả các quân nhân Pháp sau khi bị thua ở Đường số 4 đều có ý nghĩ tò mò như C.H.de PIREY: "Trong những trận giao chiến ác liệt ở Đường số 4, vào tháng 10/1950, khi rút khỏi Cao Bằng khi bị thất bại vì tài dùng binh và sự tiến công mãnh liệt của đối phương, chúng tôi tự hỏi về tính cách các chỉ huy Việt Minh và tài dùng binh có thực hoàn toàn do họ, vì có tin đồn dai dẳng là những đơn vị chính quy lớn đang hình thành bên kia biên giới Trung Quốc đều do sĩ quan Cộng sản Trung Quốc và những người Nhật ở bưng biền huấn luyện về làm khung... Chúng tôi, cựu binh sĩ các đơn vị đã từng chiếm đóng và đi lại trên con đường "dã man" ấy, mãi về sau chúng tôi mới ngạc nhiên khám phá ra đối thủ nguy hiểm nhất của chúng tôi là một thanh niên chưa đầy 30 tuổi, người chỉ huy lực lượng Việt Minh toàn vùng chiến lược ấy, khoảng 5.500 người trong đó có quân của Trung đoàn chính quy nổi tiếng 174, đó là trung tá Đặng Văn Việt" (tựa sách tiếng Pháp: Hồi ức của một trung tá Việt Minh - tác giả Đặng Văn Việt - Nhà xuất bản INDO EDITIONS - Paris, 2006 và Trẻ 2004 Hà Nội).
|
Bộ đội ta làm chủ thị xã Cao Bằng trong Chiến dịch Biên giới ngày 3/10/1950.
|
Vụ đói năm 1945, Đặng Văn Việt cùng các bạn hướng đạo tham gia đi nhặt và chôn xác người chết đói. Thời Trần Trọng Kim, anh bỏ học y tham gia vào Thanh niên tiền tuyến. Anh vào Việt Minh và thực hiện kéo cờ đỏ sao vàng lên thành Huế thay cho cờ quẻ ly trước khi cách mạng tới Huế. Sau đó anh tham gia xây dựng lực lượng vũ trang ở miền Trung. Thời kỳ oanh liệt binh nghiệp của anh là những năm 1947 - 1950, chiến dịch giải phóng Biên giới. Năm 27 tuổi, anh đã chỉ huy Trung đoàn thép 174. Trong suốt ba năm trên đoạn đường số 4 Cao Bằng - Lạng Sơn, anh đã tổ chức không biết bao nhiêu trận phục kích và đánh đồn, cho đến thắng lợi là cuộc tấn công cuối cùng vào tháng 10/1950. Sau vinh quang đường số 4, cuộc đời Đặng Văn Việt gặp nhiều trắc trở: gia đình ly tán do cách mạng ruộng đất, sang Trung Quốc làm công tác luyện quân, xuất ngũ sang làm ở Bộ Xây dựng cho đến khi về hưu, có lúc lao đao phải đạp xe đưa bánh kẹo kiếm thêm. Nhưng công tác nào ông cũng thành công, học thêm bằng kỹ sư. Khó khăn nào cũng vượt qua, vẫn yêu đời, thẳng thắn và tin vào con người. Giờ thì tương đối ổn, có thì giờ đánh ten-nit.
Trận Biên giới (tháng 10/1950) được coi là một trận quan trọng trong lịch sử quân sự Việt Nam và quốc tế về phương diện chiến lược. Vì nó tạo điều kiện cho Điện Biên Phủ, trận quyết định phá tan chủ nghĩa thực dân trên phạm vi thế giới. Bộ sách Pháp: Những trận lớn trong lịch sử (SOCOMER-Paris) lần lượt giới thiệu các trận đã dành 2 cuốn cho Điện Biên Phủ và Bi kịch đường thuộc địa số 4 năm 1950. Bình luận về trận đường số 4 như sau: "Đây là trận thua lớn nhất trong chiến tranh thuộc địa Pháp từ khi tướng MONTCALM thua Anh và chết ở Canada năm 1759".
Giới thiệu và bình luận hồi ký của Đặng Văn Việt, Giáo sư Darrinlat có nhận xét: Gần đây một số chỉ huy cũ ở đường số 4, phía Việt và phía Pháp có dịp gặp nhau và trên tinh thần thượng võ, nói lên sự tôn trọng nhân phẩm của nhau trên tinh thần giải hòa dân tộc. Điều này rất tốt nhưng tốt hơn là đôi bên cùng nhau phân tích cái tai hại của chủ nghĩa thực dân đã gây những cuộc chiến chia rẽ các dân tộc.
Hữu Ngọc