Sức khỏe và dược phẩm thời khủng hoảng

Thời sự
Khủng hoảng kinh tế không chỉ đem lại các nguy cơ mà đồng thời cũng mở ra nhiều cơ hội. Sự "giảm cầu" buộc các nhà sản xuất phải xem lại danh mục sản phẩm của mình, sàng lọc để có một danh mục dược phẩm thực sự có tác dụng và hiệu quả điều trị

Kỳ 3: Có thể hóa giải nguy cơ thành cơ hội?           

Khủng hoảng kinh tế không chỉ đem lại các nguy cơ mà đồng thời cũng mở ra nhiều cơ hội. Sự "giảm cầu" buộc các nhà sản xuất phải xem lại danh mục sản phẩm của mình, sàng lọc để có một danh mục dược phẩm thực sự có tác dụng và hiệu quả điều trị, là những sản phẩm người tiêu dùng phải ưu tiên lựa chọn trong thời buổi "thóc cao, gạo kém", góp phần lành mạnh hóa danh mục dược phẩm trong nước, loại bỏ những sản phẩm không có tác dụng chữa bệnh rõ rệt, đáng ngờ hoặc kém chất lượng. Cắt giảm các chi phí đầu vào không cần thiết (kể cả quy cách bao bì, đóng gói, chi phí quảng cáo...) để giảm giá thành sản phẩm nhưng vẫn bảo đảm hiệu lực của thuốc thông qua tăng cường đầu tư cho khoa học - công nghệ và chất lượng để thu hút người tiêu dùng. Đầu tư khoa học - công nghệ để tăng chất lượng thuốc và hiệu lực điều trị là phương thức đầu tư khôn ngoan nhất, đầu tư vào "niềm tin" của người tiêu dùng, không chỉ để vượt qua những thách thức trước mắt mà còn có tác dụng lâu dài cho cả thời kỳ "hậu khủng hoảng" và là một trong những biện pháp "tự kích cầu" mà từng doanh nghiệp có thể chủ động thực hiện, không trông chờ, ỷ lại vào chính sách của Nhà nước. Rõ ràng trong tình hình hiện nay, người tiêu dùng quan tâm nhiều hơn đến các thuốc đặc trị, biệt dược có tác dụng chữa bệnh rõ rệt hơn là các sản phẩm không kê đơn (OTC) được sản xuất và bán tràn lan, giá rẻ nhưng chất lượng và hiệu quả đáng ngờ. Đây cũng là thời kỳ mà các công ty dược phẩm cần xem xét lại phương pháp tiếp thị lâu nay vẫn sử dụng. Các nhà chiến lược marketing trong công nghiệp dược cho rằng trong 10 năm tới cần phải thay đổi phương pháp tiếp thị từ mô hình tiếp thị cho số đông (mass- marketing) sang mô hình tiếp thị theo mục tiêu (target - marketing). Phải thay thế phương pháp tiếp thị bằng hàng triệu đôla thuốc mẫu, hàng triệu đôla quảng cáo trên truyền hình... bằng việc chứng minh các dược phẩm sắp đưa ra hoặc đang lưu hành trên thị trường có khả năng nâng cao sức khỏe, cải thiện chất lượng cuộc sống và giảm chi phí y tế cho người dân. Nói cách khác, công tác tiếp thị dược phẩm không phải đơn thuần là hoạt động bán thuốc mà phải là hoạt động góp phần nâng cao sức khỏe của cộng đồng. 

Dây chuyền sản xuất đạt tiêu chuẩn GMP - WHO. 

Khủng hoảng kinh tế đang buộc các công ty dược các nước phát triển rà soát lại chính sách và theo các nhà phân tích, xu hướng gia công bên ngoài (Outsourcing Strategies) sẽ phát triển trong những năm tới nhằm giảm giá thành của thuốc. Người ta cho rằng châu Á, mà trước hết là Trung Quốc và Ấn Độ sẽ là hai thị trường gia công dược phẩm tăng trưởng mạnh trong những năm sắp đến không chỉ trong sản xuất dược phẩm mà cả trong nghiên cứu - phát triển và thử nghiệm lâm sàng các thuốc mới. Theo một số tài liệu, vào năm 2010, thị trường gia công dược phẩm của Ấn Độ có thể đạt 1 tỷ US$. Tốc độ tăng trưởng thị trường gia công dược phẩm trong những năm gần đây của Trung Quốc đạt tỷ lệ 35%. Liệu công nghiệp dược Việt nam có trở thành nơi gia công cho các công ty dược phẩm đa quốc gia không, điều đó phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật, trình độ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và chính sách, quy chế. Trong quá trình đầu tư cho công nghệ - kỹ thuật cần đầu tư có trọng điểm cho đổi mới trang thiết bị - công nghệ, lưu ý không nhập trang thiết bị - công nghệ lỗi thời, thiết bị và công nghệ "bãi rác".

Trong cơn “bão lũ” này, chiếc “phao cứu sinh” trước mắt và lâu dài của các công ty dược phẩm trong nước chính là thị trường nội địa, phục vụ cho gần 85 triệu dân trong đó 80% là người dân nông thôn mong muốn được phục vụ bằng thuốc sản xuất trong nước đảm bảo chất lượng, giá cả phải chăng và có hiệu lực điều trị chắc chắn. Theo thiển ý của chúng tôi, đây là một cơ hội để các doanh nghiệp dược Việt Nam xem xét lại chiến lược sản xuất - kinh doanh và chiến lược đầu tư để bảo đảm thuốc sản xuất trong nước có được vị thế chắc chắn trong lòng người tiêu dùng và giới y khoa, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các công ty dược trong nước. Mặt khác, chỉ gói kích cầu cũng chưa đủ để giúp sức các doanh nghiệp dược vượt qua cơn khủng hoảng. Gói kích cầu của Chính phủ là "liều ôxy" tiếp sức cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc sử dụng gói kích cầu như thế nào để đạt được hiệu quả tùy thuộc vào tư duy và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Sự vươn lên của công nghiệp dược trong nước qua cơn khủng hoảng còn cần được tiếp sức căn cơ hơn bằng các chính sách, quy chế, môi trường pháp lý và thủ tục hành chính thuận lợi. Để đối phó với một cơn bão có tốc độ gió 200km/giờ không thể sử dụng các biện pháp vẫn dùng khi trời quang, mây tạnh. Một ví dụ cụ thể là mặc dù Chính phủ đã ban hành chủ trương sử dụng sản phẩm trong nước như một biện pháp kích cầu nhưng chủ trương này đến nay vẫn chưa được cụ thể hóa trong các quy định về mua sắm cho khu vực công (sử dụng ngân sách), ví dụ quy chế đấu thầu thuốc, trang thiết bị y tế cho các bệnh viện công và bảo hiểm y tế. Các chính sách và quy định lỗi thời, các thủ tục hành chính rườm rà sẽ giảm thiểu hiệu quả, thậm chí vô hiệu hóa các chính sách, chủ trương đúng đắn, sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ cũng như các sáng kiến và cố gắng của doanh nghiệp trong tình thế "nước sôi, lửa bỏng"để vượt qua những "cơn bão" và "cơn lũ" trong nền kinh tế nước ta hiện nay. 

PGS.TS. Lê Văn Truyền
(Nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế)

Ý kiến của bạn