Những căn bệnh tâm thần không chỉ thu hút sự chú ý của giới y học mà từ lâu đã trở thành tài sản của nền văn hóa, đã thâm nhập sâu vào ngữ cảnh văn hóa và nằm trong số những đối tượng được ưa chuộng của sự miêu tả trong nghệ thuật. Và ngày nay, sự quan tâm tới hiện tượng này không ngừng gia tăng. Tại sao sự điên rồ lại có sức hấp dẫn như vậy?
Một câu hỏi khá kỳ cục. Dường như không có gì đáng sợ hơn trong cuộc sống bằng sự mất trí. Bệnh tâm thần hầu như bao giờ cũng là một nỗi đau đớn không sao chịu nổi, đó thường là một cuộc sống bị hủy hoại hay chí ít một cuộc sống có những diễn biến phức tạp nặng nề.
Đối với đa số những người được coi là khỏe mạnh thì bệnh nhân tâm thần là một người suy nghĩ hoặc nói năng một cách "không bình thường", ứng xử một cách "không bình thường". Trên thực tế thì mọi chuyện phức tạp hơn nhiều và bi đát hơn nhiều. Cái logic bị "vênh", cách xử thế không phù hợp - đó chỉ là những biểu hiện bên ngoài, còn ở tầng sâu thẳm là những rối loạn nặng nề về mặt xúc cảm. Đó là nỗi hoảng sợ, cảm giác về cuộc sống của mình bị đe dọa, về sự sụp đổ của thế giới...
Mặt khác, trong những tình huống ngôn ngữ khác nhau chúng ta thường gặp những từ ngữ biểu thị sự điên rồ, mất trí như một cái gì có sức hấp dẫn. Chúng ta nói: "Cô ấy yêu đến phát rồ", "Anh ta hát như điên như dại".
Những từ biểu thị "sự điên rồ" ở đây thể hiện cung bậc cao nhất của cảm xúc con người mà không hề có mối liên quan nào đến căn bệnh tâm thần, đến các bệnh khoa tinh thần, đến các liệu pháp tác động đến tâm thần cả.
"Sự điên rồ" ở đây xuất hiện như một thứ thước đo sức mạnh của tình cảm, nó được xem như thủ pháp ẩn dụ (métaphora) và lẽ tất nhiên, mối liên hệ giữa "sự điên rồ" và "khoái cảm" chỉ có thể tồn tại trong ngữ cảnh ẩn dụ mà thôi.
|
Chân dung Picasso - Tranh theo phong cách “hoang tưởng” của Salvador Dali. |
Sự "điên rồ" - Một hiện tượng văn hóa
Để tìm hiểu mâu thuẫn này (sự "điên rồ" như một nỗi bất hạnh và sự "điên rồ" như niềm vui) chúng ta cần phải nhận thức được rằng ở đây nói đến hai hiện tượng khác nhau. Như trên đã nói, trong thực tế có tồn tại bệnh tâm thần. Thực tế này được miêu tả bằng ngôn ngữ của khoa học tương ứng - bệnh học tinh thần (Psychiahia) và của hoạt động xã hội - sự cách ly và liệu pháp. Ngự trị ở đây là hệ thống thuật ngữ được soạn thảo bởi một cộng đồng chuyên nghiệp. Chẳng hạn, về căn bệnh này, các nhà y học nói rằng đó là "bệnh tinh thần phân lập tái diễn với ưu thế của những rối loạn sảng mộng khẩn trương" hoặc "rối loạn nhân cách mang tính chất xâm kích - thụ động".
Song những bệnh tâm thần đã quá ăn sâu bén rễ vào các hình thái khác nhau của đời sống và từ lâu đã trở thành đối tượng của các hoạt động văn hóa trong lĩnh vực tôn giáo và nghệ thuật... Ở đây, sự điên rồ có tính chất hoàn toàn đặc biệt vốn khác với cái hiện tượng được các thầy thuốc tâm thần nghiên cứu. Chính trong ngữ cảnh văn hóa, bệnh tâm thần có được những đặc tính "tích cực" của nó.
Như vậy là có hai dạng điên rồ, dạng thứ nhất là đối tượng của hoạt động khoa học và điều trị, còn dạng thứ hai là một hiện tượng văn hóa. Và giữa hai dạng này có rất ít điểm chung.
Những ngữ cảnh của sự điên rồ
Năm 1864 đã xuất hiện một cuốn sách của bác sĩ tâm thần Ý Césare Lombroso mang tên Thiên tài và chứng điên rồ. Trong cuốn sách này, tác giả đưa ra nhiều dẫn chứng cho thấy rằng nhiều họa sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, bác học, tướng lĩnh nổi tiếng, nhiều nhà hoạt động tôn giáo đã có những biểu hiện của căn bệnh tâm thần. Ông tán thành thuyết thoái hóa vốn ngự trị trong khoa học tâm thần vào thời gian đó và cho rằng "những người mất trí thiên tài" là "những người thoái hóa cao cấp" (degeneres superiewes). Theo Lombroso, những biểu hiện của sự mất trí và của tài năng sáng tạo là thực chất của bệnh động kinh ngầm.
Gặt hái nhiều thành công hơn cả là bác sĩ tâm thần Đức Poul Mobius. Từ những tổng quan mang tính chất khái quát ông đã chuyển sang thể loại "tiểu sử người mắc bệnh tâm thần" mà ông gọi là "pathographia" là người có bút pháp tuyệt vời, ông đã để lại cho hậu thế một loạt sách quý như những cuốn viết về tiểu sử bệnh tâm thần của nhạc sĩ Đức Robert Schuman, của nhà văn và nhà triết học Pháp Jean - Jacque Rousseau của nhà triết học Đức Arthur Schopenhauer...
Trên ranh giới của thế kỷ XIX và XX đã xuất hiện các nhà phân tâm học. Sigmund Freud đã chú ý tới sự tương ứng giữa những rối loạn thần kinh và kết cấu của tác phẩm nghệ thuật. Ông đã chuyển trọng tâm chú ý từ tiểu sử sang tác phẩm, từ sự chẩn bệnh sang cấu tạo tâm lý. Người sáng lập thiên tài ra khoa phân tâm học đã nhận thấy sự giống nhau giữa cấu trúc của những mối quan hệ gia đình với cấu trúc cốt truyện của một loạt tác phẩm văn học. Cái mà sau này được gọi là "mặc cảm Ơđíp" không chỉ bộc lộ trong vở kịch "Ơđíp làm vua của Sophocle mà còn bộc lộ trong cả "Hămlét" của Shakespiere, "Anh em nhà Karmazov" của Dosloevski và trong nhiều tác phẩm khác nữa.
Vấn đề "thiên tài và bệnh điên rồ" vẫn đang bỏ ngỏ do những ý kiến đa chiều. Tất nhiên, không phải bất cứ ai mất trí đều là thiên tài, song những nghiên cứu mới nhất về tâm lý bệnh học cho thấy rằng những người mắc bệnh tâm thần sở hữu sức sáng tạo rất cao trong việc giải quyết những nhiệm vụ khác nhau, tư duy của họ ít sơ cứng hơn so với những người khỏe mạnh.
Những niềm vui của sự điên rồ: Mặt trái của nỗi sợ hãi
Như vậy, người mắc bệnh tâm thần có sức hấp dẫn bởi một loạt dấu hiệu. Anh ta gần gũi với thần thánh và với người nghệ sĩ nhờ sự giống nhau giữa trạng thái của mình với sự xuất thần trong tôn giáo và trong sáng tạo nghệ thuật. Anh ta có tính độc lập rất cao và thoát khỏi sự ràng buộc của nhiều nghĩa vụ và nhiều điều quy ước, mà sự tự do đó là điều mong muốn đối với mỗi chúng ta.
Xét cho cùng, sự mất trí đã trở thành con tin của sự nổi tiếng của mình. Nếu như trước đây, bệnh tâm thần là một cái gì đó đặc biệt và khủng khiếp thì một loạt yếu tố đã khiến nó trở thành thông thường và dường như mang tính chất cập nhật.
Một là, bệnh tâm thần đã được mô phỏng rộng rãi trong thực tiễn nghệ thuật của thế kỷ XX. Chỉ cần nhắc tới phong cách nghệ thuật "hoang tưởng" của họa sĩ siêu thực Tây Ban Nha Salvador Dali vốn là người hoàn toàn khỏe mạnh là mọi chuyện trở nên dễ hiểu. Nhờ có phân tâm học nên "cái mốt điên rồ" được phổ biến khắp nơi và đã biến thành một thứ hàng hóa ăn khách trên thị trường nghệ thuật.
Hai là, sự tiến bộ đáng kể trong việc điều trị những căn bệnh tâm thần, trước hết trong lĩnh vực dược lý học tâm thần đã không làm cho bệnh nhân trở thành những người khốn khổ như trước đây và đã giảm thiểu đáng kể sự bi đát trong lĩnh vực này. Đa số bệnh nhân tâm thần bằng cách này hay cách khác được đưa vào hệ thống của những quan hệ xã hội và sản xuất. Do đó bệnh điên rồ trở nên một hiện tượng thông thường, mặc dầu vẫn còn những hạn chế nhất định.
Sự quan tâm chú ý đến bệnh điên rồ, việc nó được phú cho những ưu đãi - đó là mặt trái của nỗi sợ hãi trước căn bệnh ấy. Nếu như, một mặt, nỗi sợ hãi đó được thể hiện ở sự mong muốn cách ly người mắc bệnh tâm thần, thì mặt khác, nó được biểu lộ trong những dạng quan tâm khác nhau tới loại bệnh nhân này.