Cách đây hơn 20 năm, ngày thành lập Viện Tim mạch trong khuôn viên Bệnh viện Bạch Mai, ngày mà một sự kiện "từ không đến có" diễn ra...
Nhớ lại năm 1959, khi Giáo sư (GS) Đặng Văn Chung, với sự gợi ý của Giáo sư Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch, đã thành lập đơn vị chuyên đề tim mạch đầu tiên ở nước ta, với tên gọi là: "Tổ tim mạch", bao gồm bác sĩ (BS) Đỗ Đình Địch, BS Bùi Thế Kỳ, tôi với GS Đặng Văn Chung làm tổ trưởng. Sau này lần lượt có thêm BS Phạm Khuê, BS Phạm Gia Khải.
Khi đó, Bệnh viện Bạch Mai chỉ có một "Khoa nội chung", bao gồm 8 phòng từ C1 đến C8, đều nhận bệnh nhân nội khoa như nhau không phân biệt chuyên khoa. Tổ tim mạch đã đề nghị tập trung các bệnh nhân tim vào phòng C1, coi như một "Bệnh phòng chuyên khoa tim mạch" đầu tiên và thành lập một "Phòng khám chuyên khoa tim ngoại trú".
|
Sử dụng hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể trong phẫu thuật thay van tim. |
Được khích lệ bởi những thành công ban đầu, tổ nghiên cứu tim mạch tiến lên thực hiện hàng loạt kỹ thuật mới, những kỹ thuật mà ngày nay ta thấy thông thường mà không biết những bước đầu khai phá khó khăn. Thí dụ:
Kỹ thuật thông tim được BS. Bùi Thế Kỳ và Tổ tim mạch thực hiện đầu tiên năm 1959. Lúc đó, có nhiều người đặt câu hỏi: Đưa một ống thông vào đụng chạm tận trong các ngóc ngách buồng tim như thế có sợ ngừng tim hay không? Và nếu xảy ra ngừng tim chết người thì có phải là đem bệnh nhân ra làm vật thí nghiệm hay không? Tuy nhiên, mọi sự vẫn diễn ra an toàn. Năm 1973, BS Đinh Văn Tài được trang bị máy móc tốt hơn còn phát triển thông tim lên một mức nữa.
Kiến thức điện tâm đồ (ĐTĐ), hồi đó còn rất sơ khai, tôi đã nghiên cứu trên các bản ĐTĐ ghi được từ những chiếc máy đầu tiên và thực hiện các công trình nghiên cứu, như: ĐTĐ bình thường ở người Việt Nam, Giá trị chẩn đoán các ĐTĐ bệnh lý, phân tích các biến thiên phức tạp của dòng điện tim rồi từ đó biên soạn cuốn sách Chẩn đoán điện tâm đồ, ra đời đầu tiên năm 1963, góp phần làm ĐTĐ trở thành một thăm dò thường quy đặc biệt quan trọng trong lâm sàng.
Kỹ thuật sốc điện đưa một dòng điện cao 7.000V vào lồng ngực bệnh nhân để điều trị bệnh loạn nhịp tim, lúc đầu cũng không phải được tất cả mọi người đồng tình, vì sợ nguy hiểm. Nhưng năm 1973, báo cáo tổng kết 30 ca Điều trị rung nhĩ bằng sốc điện đồng bộ đầu tiên ở Việt Nam của nhóm gồm tôi, BS Vũ Văn Đính và BS Hàn Thành Long, sau này thêm BS Nguyễn Ngọc Tước đã thành công và được giải thưởng lớn của Tổng Công đoàn do GS Trần Đại Nghĩa trao tặng.
Kỹ thuật cấy máy tạo nhịp tim vào cơ thể lúc đó cũng khá mới lạ. Nhưng những ca đầu tiên được nhóm BS Vũ Văn Đính, Đặng Hanh Đệ và tôi thực hiện năm 1973 đã đưa việc điều trị loạn nhịp cao vọt lên một giai đoạn mới.
Kỹ thuật siêu âm tim được BS Phạm Gia Khải và sau đó BS Nguyễn Lân Việt, BS Nguyễn Tuyết Minh, BS Đỗ Doãn Lợi, nghiên cứu đầu tiên năm 1975, với các máy viện trợ của Friendship Bridge (Mỹ), đã phát triển rất mạnh. Và ngày nay nó đã trở thành một thăm dò không chảy máu quan trọng, quyết định chẩn đoán nhiều ca bệnh tim mạch.
Các tiến bộ khoa học tim mạch được dư luận rộng rãi và Bộ Y tế đánh giá cao. Để tạo điều kiện thêm, năm 1972, Bộ Y tế và Bệnh viện Bạch Mai đã ra quyết định nâng cấp Bệnh phòng tim mạch thành lập Khoa tim mạch đầu ngành tách ra khỏi Khoa nội.
Ngay sau khi thành lập, Khoa tim mạch đầu ngành lập tức thúc đẩy lâm sàng, đặc biệt việc điều trị bằng các thuốc chống loạn nhịp mới và khó sử dụng, triển khai một công trình Điều tra huyết áp lớn ở nhiều tỉnh Bắc, Trung, Nam và một loạt hoạt động chỉ đạo ngành cho các bệnh viện tỉnh, tổ chức thường kỳ các khóa đào tạo chuyên khoa tim mạch theo ủy thác của Bộ Y tế, nghiên cứu thành lập các khoa tim mạch mới ở một số bệnh viện tỉnh và tổ chức ra Hội Tim mạch với 10 (mười) Đại hội khoa học tim mạch lớn ở các tỉnh Bắc, Trung, Nam, góp phần gây dựng phong trào sôi nổi, nghiên cứu bệnh học tim mạch trong cả nước.
Trong thời gian đó, tôi đã viết và xuất bản nhiều sách chuyên đề, như Điện tâm đồ trong lâm sàng, Huyết động học trong lâm sàng, Sốc điện, Tạo nhịp tim; Cộng tác với BS Vũ Đình Hải viết cuốn Các rối loạn nhịp tim. Còn cuốn Hướng dẫn đọc điện tim thì được tái bản tới 11 lần. Chúng tôi cũng dịch cuốn Siêu âm tim của Feigenbaum và 14 cuốn sách tim mạch của Tổ chức Y tế Thế giới. Mặc dầu hồi đó là thời kì vô cùng gian khổ vì Khoa tim mạch bị bom Mỹ B52 phá tan phải tạm chuyển sang nhà Lây 1, Lây 2 của Khoa truyền nhiễm.
Nhận biết được tính cách phát triển của Khoa tim mạch có tầm cỡ một viện chuyên ngành, năm 1979, Bộ trưởng Bộ Y tế Vũ Văn Cẩn đã giao cho tôi viết Đề án thành lập Viện Tim mạch Việt Nam. Đề án đã viết dài 56 trang, đề cập tình hình phát triển tim mạch học trong nước và thế giới và đề xuất một chương trình mới hoạt động khoa học tim mạch sâu rộng. Bộ trưởng đã đọc và phê vào là "Đề án tốt, hợp lí và khả thi" và đã phát biểu điều đó trong một cuộc họp của Bộ Y tế.
Nhưng lúc đó còn một loạt khó khăn: tình trạng nghèo nàn lạc hậu, thiếu thốn đủ mọi thứ, máy móc, hóa chất, thuốc men, chế độ quan liêu bao cấp, cơ chế xin - cho, những rào cản nặng nề. Lại thêm sự kiện Bộ trưởng Vũ Văn Cẩn từ trần năm 1982, nên phải một thời gian đến ngày 11/11/1989 mới có quyết định của Bộ Y tế thành lập Viện Tim mạch Việt Nam.
Sau đó là thời kì đổi mới kinh tế, giao lưu quốc tế mở rộng, các kỹ thuật mới phát triển mạnh, nổi bật là tim mạch can thiệp. Thật tự hào khi Viện Tim mạch hùng hậu như hiện nay, với nhiều bác sĩ tài năng mới và nhiều máy móc hiện đại.
Kết quả của bao năm phấn đấu bền bỉ cho khoa học tim mạch, vượt qua bao gian khổ, đạt được những thành công rực rỡ, xây dựng được một uy tín đáng kể, ngày nay lại được phong Đơn vị Anh hùng.