Nông dân và giấc mơ xuất ngoại

Thời sự
Những dịch vụ xuất khẩu lao động (XKLĐ) có trách nhiệm qua hiểu biết đối tác nước ngoài, thật sự vì người lao động sẽ là "ân nhân" với những người nông dân nghèo khó bởi giúp họ cải thiện hoàn cảnh.

Bài 2: "Đưa đi" là... hết trách nhiệm?

Những dịch vụ xuất khẩu lao động (XKLĐ) có trách nhiệm qua hiểu biết đối tác nước ngoài, thật sự vì người lao động sẽ là "ân nhân" với những người nông dân nghèo khó bởi giúp họ cải thiện hoàn cảnh. Thế nhưng sẽ là "tai họa", muốn thoát nghèo càng nghèo thêm nếu chọn phải dịch vụ XKLĐ cốt đưa người đi với mục đích kinh doanh. Trách nhiệm của Bộ LĐ - TB - XH trước các cơ quan, tổ chức XKLĐ mà họ cấp phép đến đâu?

Khi gặp vị PGĐ đại diện cho Công ty Nhân lực và Thương mại quốc tế (Intraco) đưa ra những thắc mắc của bạn đọc, chúng tôi thường chỉ nhận được những câu trả lời lạc đề. Thay vì muốn được rõ hợp đồng hy vọng có việc làm ở nước ngoài của những người nông dân Bắc Giang với công ty không được thực hiện sao chỉ được "hỗ trợ" một phần so với số tiền đã nộp, vị PGĐ đưa ra khá nhiều văn bản, giấy tờ để chứng minh công ty mình là công ty "xịn", có giấy phép hoạt động và "thiện chí" thanh lý hợp đồng của công ty với nhóm lao động nói trên còn do quy định của Bộ LĐ-TB-XH.

Trong bản "Danh sách lao động Liên bang Nga về nước thanh lý hợp đồng" của những nhóm XKLĐ ở Bắc Giang, mức "hỗ trợ" của công ty cao nhất là 16.911.928 đồng (chưa được 1000 USD). Vậy thì so với số tiền phải nộp lúc ban đầu để ký hợp đồng, thì khoản chênh lệch đi đâu? Giải thích về điều này, ông Minh đưa ra Thông tư liên tịch số 16/2007/TTLT-BLĐTBXH-BTC của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và cho biết đó là khoản tiền môi giới và tiền dịch vụ mà người đi XKLĐ phải trả cho công ty. Dịch vụ là kinh doanh và kinh doanh tất nhiên có rủi ro, vậy dịch vụ XKLĐ sao không phải chịu rủi ro mà bắt những người nông dân nghèo khó phải gánh hết khi họ chỉ biết có cơ quan môi giới, tổ chức cho họ đi?

 Người lao động Việt Nam ở nước ngoài.     

Chưa kể những tháng ngày "vật vã" làm không công bên trời Tây, đa số những người lao động ngoài đủ thứ tiền cho dịch vụ, vé máy bay phải gánh chịu nhiều khoản khác như phải học tiếng, học nghề, trả lãi ngân hàng... Tất cả họ đều lâm vào cảnh khóc dở dù họ không hề có lỗi.

Và cũng theo Thông tư nói trên, khoản tiền môi giới và tiền dịch vụ phải căn cứ vào mức tiền lương cơ bản (tính theo tháng) trong một năm hợp đồng, và mỗi số khoản này  không vượt quá một tháng lương. Phóng viên lại đặt câu hỏi: "Vậy với mức lương mà nhóm XKLĐ nói trên được hưởng trên thực tế là... không lương thì Intraco căn cứ vào đâu để tính phí môi giới và dịch vụ đây?". Chúng tôi không nhận được câu trả lời xác đáng cho câu hỏi này, đây cũng là nguyên nhân dẫn tới việc khiếu kiện liên miên, không thanh lý được hợp đồng giữa Intraco với một số người trong nhóm lao động ở Song Mai - Bắc Giang.

Hiện nay, số lượng các doanh nghiệp, tổ chức nhà nước và tư nhân được cấp phép XKLĐ là 164 đơn vị, song theo đánh giá năm 2009 của Ủy ban Các vấn đề xã hội thì hiện có quá nhiều doanh nghiệp chỉ có "hình" mà không có "tiếng", quy mô nhỏ, lực lượng ít lại thiếu kinh nghiệm. Từ 1/7/2007 đến hết tháng 6/2009, chỉ có 81 doanh nghiệp đưa trên 500 người đi XKLĐ. Có đến 16 doanh nghiệp đưa dưới 100 và 29 doanh nghiệp không đưa được lao động nào đi. Vì nhiều cơ sở quá nên người có nhu cầu XKLĐ cũng hết sức bối rối không biết nên "chọn cửa" nào là đáng tin cậy.

Đã vậy, nhiều doanh nghiệp còn thiếu trách nhiệm trong việc quản lý, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động ở nước ngoài; không hiểu rõ về đơn vị tiếp nhận lao động; thanh lí hợp đồng với người lao động thiếu rõ ràng; vẫn nặng hoạt động vì lợi ích của doanh nghiệp là chính; phí môi giới, dịch vụ và các khoản đóng góp không rõ ràng, khiến cho chi phí đi XKLĐ gấp nhiều lần so với thông báo của các doanh nghiệp tuyển dụng... Xét cho cùng chỉ có khoảng 30% doanh nghiệp được cấp phép XKLĐ là đủ uy tín, chất lượng.

Các cơ quan quản lý nhà nước chưa thẩm tra chặt chẽ năng lực của các đơn vị xin cấp phép; các hợp đồng cung ứng lao động do các doanh nghiệp đăng ký; xử lý chưa nghiêm minh các vi phạm của doanh nghiệp XKLĐ...

XKLĐ là một lợi ích "kép", không chỉ góp phần giải bài toán thất nghiệp của một đất nước đông dân đang phát triển, mà còn mang lại một nguồn ngoại hối quan trọng cho đất nước. Việt Nam hiện có gần 600.000 lao động làm việc tại hơn 40 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Mỗi năm, số tiền mà các lao động ngoài nước gửi về gia đình khoảng gần 2 tỷ USD, đây là những con số không nhỏ. Tuy nhiên, thử so sánh với Philippines, một đất nước với 90 triệu dân, hẳn sẽ để lại cho những cơ quan quản lý lao động nhiều suy nghĩ khi biết rằng quốc gia này luôn có tới hơn 10 triệu lao động làm việc ở ngoài nước, mỗi năm mang về cho đất nước hơn 12 tỷ USD.

Được biết trường hợp nhùng nhằng việc hỗ trợ của Công ty XKLĐ Intraco và người lao động ở Bắc Giang như nói trên hiện nay là rất phổ biến, nhưng điều quan trọng là trách nhiệm của các công ty đến đâu, hay chỉ dừng lại ở việc đưa người lên máy bay là đã xong? Chắc chắn những hạn chế, yếu kém đó chính là một trong những nguyên nhân chính khiến sự nghiệp XKLĐ không đem lại hiệu quả tương xứng với tiềm năng của Việt Nam, một đất nước luôn dồi dào nguồn nhân lực.

Hoàng Dương


Ý kiến của bạn