Vào những tháng đầu năm 2020, nhiều bệnh viện đã tạm dừng các hoạt động thông thường để giải phóng giường bệnh, sẵn sàng đối phó với làn sóng bệnh nhân Covid-19.
Chiến lược này có thể đã giúp ích trong thời khắc khủng hoảng, nhưng sau vài năm, rõ ràng những biện pháp đó đã gây ra những tổn thương lâu dài cho hệ thống y tế nhiều nơi trên thế giới.
Từ lúc nhập viện cho đến khi xuất viện, việc chăm sóc tại bệnh viện giờ đây khó tiếp cận hơn, mất thời gian hơn và chất lượng điều trị cũng kém đi. Hệ quả tất yếu là sự xuất hiện ngày càng nhiều những cái chết lẽ ra có thể tránh được.
Hầu như tất cả mọi người đều bị ảnh hưởng. Theo tạp chí The Economist, tại 18 quốc gia dân chủ giàu có, mức độ hài lòng đối với chất lượng y tế đã sụt giảm mạnh sau đại dịch và hiện vẫn thấp hơn nhiều so với mức trước đại dịch.

Những biện pháp đối phó đại dịch Covid-19 gây ra những tổn thương lâu dài cho hệ thống y tế nhiều nơi trên thế giới. Ảnh minh họa: Pavel Danilyuk/Pexels
Tình cảnh trên giống như những gì Tom Dolphin - bác sĩ gây mê tại London kiêm lãnh đạo Hiệp hội Y khoa Anh, từng nhận định: "Hệ thống chăm sóc sức khỏe của chúng ta đã sụp đổ vào năm 2020. Chúng ta vẫn muốn vờ như không có chuyện đó, nhưng thực tế là nó đã sụp đổ".
Khi thời gian chờ khám trở thành "cuộc chơi" sinh tử
Tuy nhiên, để hiểu rõ tại sao điều này lại xảy ra thì không hề đơn giản. Có rất ít bộ dữ liệu theo dõi hiệu suất bệnh viện ở quy mô quốc tế, Vì vậy, tạp chí The Economist phải thu thập dữ liệu từ các hệ thống y tế trên toàn thế giới để xác định xem mọi thứ đang chệch hướng ở đâu.
Nỗi ám ảnh bắt đầu ngay từ bên ngoài phòng cấp cứu. Thời gian chờ đợi đã kéo dài hơn ở Mỹ, châu Âu và nhiều nơi khác. Sảnh bệnh viện trở nên đông đúc hơn và nhân viên thì làm việc quá tải hơn so với trước đại dịch.
Tại một số khu vực của Australia, gần một nửa số bệnh nhân đến bằng xe cứu thương phải đợi bên ngoài phòng cấp cứu hơn 30 phút mới có chỗ nằm.
Ở Anh, khoảng 1/4 bệnh nhân gặp tình trạng chậm trễ tương tự, gấp đôi so với mức năm 2019.
Còn tại Canada, một con số kỷ lục những người bị bệnh hoặc bị thương đã phải bỏ cuộc và rời khỏi phòng cấp cứu trước khi được nhân viên y tế thăm khám.
Kể cả khi đã vào được phòng cấp cứu, việc điều trị vẫn diễn ra chậm chạp. Hơn 1/4 bệnh nhân tại Anh phải ở đó hơn 4 giờ, gấp đôi mức của năm 2019. Tại bang Massachusetts (Mỹ) - một tiểu bang có dữ liệu thống kê khá đầy đủ, hơn 2/5 người phải chịu đựng sự chờ đợi này. Trong khi ở Australia, con số này là gần một nửa.

Việc điều trị vẫn diễn ra chậm chạp kể cả khi bệnh nhân đã vào được phòng cấp cứu. Ảnh minh họa: Getty Images
Tình trạng "chờ trên xe đẩy" (thời gian từ lúc bác sĩ quyết định cho nhập viện đến khi bệnh nhân thực sự có giường bệnh) cũng tăng vọt. Năm ngoái, gần 1/10 ca cấp cứu tại Anh, tương đương khoảng 550.000 người, phải đợi trên xe đẩy hơn 12 giờ, tăng gấp 67 lần so với năm 2019.
Trường Cao đẳng Y học Cấp cứu Hoàng gia ước tính việc chờ đợi trên xe đẩy đã góp phần gây ra gần 5.000 ca tử vong có thể tránh được tại các bệnh viện ở Anh vào mùa hè năm ngoái. Thậm chí, thời gian bệnh nhân chờ thay khớp háng năm 2024 tại 9 trên 11 quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) vẫn cao hơn mức trước đại dịch.
Canada có lẽ là nơi bị ảnh hưởng nặng nề nhất, khi một khảo sát của Viện Fraser ước tính thời gian chờ trung bình để được điều trị chuyên khoa là 29 tuần vào năm 2025, cao hơn 1/3 so với năm 2019. Đây là kết quả tệ thứ hai kể từ khi cuộc khảo sát bắt đầu vào năm 1993, sau kỷ lục buồn 30 tuần được thiết lập vào năm 2024.
Tất cả những điều này tạo thành một "vòng xoáy bế tắc" với 4 yếu tố: Thời gian chờ đợi kéo dài khiến bệnh nhân trở nặng hơn; bệnh nhân nặng cần thời gian điều trị lâu hơn; thời gian điều trị kéo dài làm tắc nghẽn công suất bệnh viện; công suất giảm lại tiếp tục kéo dài thời gian chờ đợi.
Khi năng lực y bác sĩ trở thành bài toán nan giải
Điều đáng ngạc nhiên là nhiều bệnh viện vẫn trong tình trạng "tắc nghẽn" dù được đầu tư nguồn lực rất tốt. Theo The Economist, kinh phí cho y tế hiện đang ở mức cao nhất lịch sử (trừ giai đoạn giữa đại dịch Covid-19). Chi tiêu y tế tại các nước khối OECD đã tăng lên gần 10% GDP sau đại dịch, trong khi chi tiêu trung bình trên đầu người tại châu Âu cũng tăng 13% so với năm 2019.
Nguồn nhân lực tại nhiều bệnh viện cũng được tăng cường. Các bệnh viện Mỹ đã bổ sung gần 140.000 việc làm vào năm ngoái, trong khi Hệ thống Dịch vụ Y tế Quốc gia (NHS) của Anh đã tăng 25% nhân sự kể từ năm 2019, với lượng nhân lực hiện lên tới 1,4 triệu người.
Tuy vậy, bài toán về năng suất vẫn hiện hữu, khi một số bệnh viện dường như đang hoạt động kém hiệu quả hơn dù có nhiều nguồn lực hơn. Tại Australia, dù đội ngũ nhân viên tăng gần 20%, số ca phẫu thuật theo kế hoạch hầu như không đổi, với điểm khác biệt duy nhất là bệnh nhân phải chờ đợi lâu hơn.

Áp lực từ thời đại dịch Covid-19 khiến tỷ lệ biến động nhân sự tăng cao, khi nhiều bác sĩ và điều dưỡng viên phải xin nghỉ việc hoặc nghỉ hưu sớm. Ảnh minh họa: EVG Kowalievska/Pexels
Các chuyên gia đã đưa ra nhiều lý do khác nhau để giải thích vì sao các bệnh viện - vốn là những hệ thống lớn và phức tạp - vẫn chưa thể hồi phục hoàn toàn.
Áp lực từ thời đại dịch Covid-19 khiến tỷ lệ biến động nhân sự tăng cao, khi nhiều bác sĩ và điều dưỡng viên phải xin nghỉ việc hoặc nghỉ hưu sớm. Những người ở lại đã giảm bớt "nỗ lực tự nguyện" (như làm thêm giờ không bắt buộc, vốn là yếu tố giúp các hệ thống y tế vượt qua những đợt cao điểm về số ca nhập viện). Tình trạng kiệt sức (burnout) của các y bác sĩ vẫn ở mức rất cao.
Hệ quả là đợt tuyển dụng ồ ạt sau đó tạo ra một đội ngũ nhân viên y tế ít kinh nghiệm hơn và có vẻ kém năng suất hơn. Đơn cử như ở Anh, tỷ lệ điều dưỡng viên có kinh nghiệm dưới 1 năm đã tăng gấp đôi kể từ năm 2015.
Ngoài ra, dù lực lượng bác sĩ và điều dưỡng được bổ sung nhanh chóng, việc tuyển dụng cho các vị trí hỗ trợ then chốt như trợ lý phòng mổ hay quản lý bệnh viện lại không theo kịp.
Tìm lối thoát cho tương lai
Để thoát khỏi vòng xoáy bế tắc hiện tại, nhiều bệnh viện trên khắp thế giới đang nỗ lực triển khai nhiều giải pháp cấp bách. Thực tế, việc thiếu hụt điều dưỡng và bác sĩ có kinh nghiệm đang là bài toán đau đầu, buộc các nhà quản lý phải cân nhắc lại chế độ đãi ngộ để giữ chân nhân viên.
Bên cạnh các yêu cầu về nguồn lực, một số nơi đã bắt đầu thử nghiệm những phương pháp tiếp cận sáng tạo nhằm tối ưu hóa không gian, ưu tiên giường bệnh cho những ca nguy kịch nhất. Một số cơ sở y tế tại Mỹ, như phòng khám của Bác sĩ Richard Leuchter - chuyên gia về y học cấp cứu tại Đại học California cơ sở Los Angeles (UCLA), đang áp dụng chiến lược "tránh nhập viện" (avoidance strategies).
Theo đó, các bệnh nhân tại khoa cấp cứu có tình trạng ổn định sẽ được chuyển hướng sang điều trị tại các phòng khám chuyên khoa ngoại trú - nơi không có giường lưu trú qua đêm. Cách làm này giúp giảm thiểu tình trạng “nằm chờ” tại hành lang bệnh viện, vốn là nỗi ám ảnh của nhiều bệnh nhân trong những năm gần đây.

Một số bệnh viện bắt đầu thử nghiệm những phương pháp tiếp cận sáng tạo nhằm tối ưu hóa không gian, ưu tiên giường bệnh cho những ca nguy kịch nhất. Ảnh minh họa: RDNE Stock project/Pexels
Ngoài ra, xu hướng chuyển dịch y tế về cơ sở đang trở thành một cuộc cách mạng nhỏ. Nhiều quốc gia hiện đang triển khai các loại hình "chăm sóc tại cộng đồng", nơi việc điều trị không còn bó hẹp trong 4 bức tường bệnh viện mà được thực hiện ngay tại nhà của người bệnh. Với sự hỗ trợ của công nghệ theo dõi từ xa và đội ngũ điều dưỡng lưu động, bệnh nhân có thể phục hồi trong môi trường gia đình thoải mái mà vẫn đảm bảo an toàn y tế.
Nhìn rộng ra, trong những xã hội đang đối mặt với tình trạng già hóa dân số nhanh chóng, việc thay đổi mô hình chăm sóc tại bệnh viện là một xu thế tất yếu. Những ca chấn thương nhỏ lẻ sẽ ít đi, thay vào đó sự gia tăng đáng kể nhóm bệnh nhân mắc các bệnh mãn tính phức tạp, đòi hỏi sự chăm sóc dài hạn và chuyên sâu hơn.
Có thể nói, đại dịch Covid-19 không tạo ra sự thay đổi này, nó chỉ đóng vai trò là một "chất xúc tác" nghiệt ngã khiến các bệnh viện trở nên yếu ớt hơn trong thực hiện nhiệm vụ của mình.