Mười sáu năm ấy biết bao nhiêu tình!

Văn hóa – Giải trí
Giữa một ngày nắng đẹp, cuối tháng 11/ 2008, chúng tôi được cụ Hữu Ngọc mời đi một chuyến "dã ngoại" của Quỹ Thụy Điển - Việt Nam phát triển văn hóa (TĐVNPTVH), mà cụ nhấn mạnh đây là chuyến tài trợ cuối cùng của Quỹ sau 16 năm hoạt động.

Giữa một ngày nắng đẹp, cuối tháng 11/ 2008, chúng tôi được cụ Hữu Ngọc mời đi một chuyến "dã ngoại" của Quỹ Thụy Điển - Việt Nam phát triển văn hóa (TĐVNPTVH), mà cụ nhấn mạnh đây là chuyến tài trợ cuối cùng của Quỹ sau 16 năm hoạt động. Chúng tôi lên Thái Nguyên, đem "quà" tặng cho mấy Câu lạc bộ hát Then của người Tày, câu lạc bộ hát Quan họ của người Kinh lên làm ăn nơi đây đã mấy đời mà vẫn mang đậm hồn cốt vùng văn hóa sông Đuống, sông Cầu...

Đó là những hòm thiết bị âm thanh thu phát, micro không dây, nhạc cụ dân tộc và những chiếc máy nổ quý giá cho những buổi biểu diễn ngoài trời.

Muốn có "quà", các câu lạc bộ phải làm đơn đề nghị, nói rõ hoạt động và nhu cầu của mình. Quỹ TĐVNPTVH sẽ có người về thẩm tra, rồi trình bầy với Hội đồng quản trị quỹ. Hội đồng gồm có các chuyên gia đầu ngành như NSND Đình Quang, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, họa sĩ Đặng Thị Khuê, nguyên Tổng thư ký Hội Mỹ thuật, nhà báo QĐND Phạm Phú Bằng, giỏi Hán Nôm, chuyên khảo sát các đền, chùa, đình, miếu... Hội đồng chuyên gia gồm ông Chu Đức Thành, nguyên đại sứ Việt Nam tại Ai Cập, người Tày theo dõi những vấn đề dân tộc ít người, NSND đạo diễn sân khấu Phạm Thị Thành, nhà thơ Trần Đăng Khoa, họa sĩ Phạm Minh Hải (báo Văn nghệ).

Học giả Hữu Ngọc. 
Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật Thái Nguyên là một tòa nhà rộng lớn, kiến trúc phù hợp với thẩm mỹ người Việt. Thấy chúng tôi nức nở khen tòa nhà, Phó giám đốc Sở Phạm Thái Anh giải thích: Thái Nguyên còn là trung tâm cả vùng Việt Bắc, khi có hội diễn khu vực, hàng chục đoàn nghệ thuật các tỉnh về mới đủ phòng ốc và sân khấu lớn cho các đoàn bạn luyện tập, trình diễn.

Đầu tư của nhà nước cho văn hóa như vậy là quá tuyệt vời! Còn lại, các câu lạc bộ phải tự bươn chải, văn nghệ nghiệp dư chủ yếu phải tự lực mà sống! Tôi liên hệ đến các phường rối nước, rối cạn ở đồng bằng Bắc bộ. Các nghệ nhân cũ già yếu, ra đi dần, cánh trẻ thì bận theo đuổi những cái mới, mà có muốn phục hồi vốn cổ cũng không có đạo cụ, nhà thuỷ đình. Con rối phần lớn bị mối mọt, mục nát không có tiền sắm mới. Quỹ TĐVNPTVH đã trợ giúp hàng chục phường rối như vậy (rối cạn Tế Tiêu, rối nước Bình Phú, rối nước Chàng Sơn (Thạch Thất)... khi nghệ thuật múa rối có nguy cơ mai một. Trợ giúp đợt I , các phường rối nhúc nhắc sống dậy, đến đợt II, đợt III mới tạo điều kiện cho một số phường khả năng tồn tại, có phường rối nước còn đủ tín nhiệm để "mang chuông đi đấm xứ người". Đã xuất ngoại là có tiền, rồi "mỡ nó rán nó". Quỹ Thụy Điển - Việt Nam như người thầy thuốc chỉ cứu được người bệnh lúc nguy cấp, chứ làm sao nuôi được người bệnh, khi họ không tự đứng dậy!

Tôi được vài lần đi cùng với cụ Hữu Ngọc và các ủy viên quản trị Quỹ TĐVN, như lần chở chiếc trống đồng về đền Đồng Cổ thôn Đan Nê, xã Yên Thọ, Yên Định - Thanh Hóa. Chiếc trống cổ của đền này bị mất từ lâu. Quỹ TĐVN đã đặt nghệ nhân đúc đồng nổi tiếng ở Ý Yên, Nam Định (ông Nguyễn Trọng Hạnh, người đã đúc tượng Lý Công Uẩn cho Hà Nội) đúc theo mẫu trống đồng Ngọc Lũ, để đền Đồng Cổ vẫn xứng với cái tên của nó!

Quỹ TĐVN hễ phát hiện được điều gì gây tổn hại tới di tích, di vật cổ đều nhanh chóng cử người đến xem xét và tiến hành bảo vệ . Thí dụ: người của Quỹ đã phát hiện 2 quả chuông niên đại thời nhà Mạc ở cánh đồng Nước Hai, Cao Bằng, phát hiện ở biên giới Lạng Sơn có tấm bia đá đầu tiên có khắc chữ Việt Nam. Lập tức, Quỹ tài trợ cho địa phương phục chế, xây nhà bia ở Đồng Đăng, xây nhà bảo vệ hai quả chuông thời Mạc đang dãi dầu sương gió.

Chúng tôi dự lễ trao quà tặng của Quỹ, nghe nghệ nhân cao tuổi người Tày: bà Bích Hồng ở tuổi 70 mà giọng hát Then vẫn còn trữ tình đằm thắm. Chúng tôi thăm nhà ông Mông Đông Vũ, Giám đốc Trung tâm Văn hóa - Nghệ thuật, xem bộ sưu tập các loại ấm cổ của ông. Công phu sưu tầm của ông thật xứng hợp với một địa phương nổi tiếng về trà Thái, trà Tân Cương.

Về đến Hà Nội, tôi vội hẹn với cụ Hữu Ngọc một buổi gặp để tìm hiểu lần cuối toàn bộ hoạt động của Quỹ TĐVNPTVH 16 năm qua. Vì hoạt động của Quỹ đó cũng là một phần"trữ lượng", là nguồn mạch cho chuyên mục Sổ tay văn hóa trên báo Sức khỏe & Đời sống của chúng tôi mà suốt 12 năm, tuần nào cụ Hữu Ngọc cũng có bài. Bài nào cũng tươi mới, không về thông tin văn hóa cặp nhật thì lại là một vấn đề đặt ra để ta phải suy nghĩ, hoặc khái quát một ý tưởng cụ chiêm nghiệm được khi làm văn hóa Quỹ. Cụ không chỉ là một học giả, mà còn là người hành động, đang điều hành một dòng chảy bảo tồn văn hóa cổ và khích lệ những hoạt động văn hóa, những nhân tố văn hóa mới trong nhân dân.

Khi tôi gợi hỏi cụ bằng một câu tập Kiều: "Mười sáu năm ấy... biết bao nhiêu tình? Bác Ngọc nhỉ?" Cụ cười nhẹ, ngước đôi mục kỉnh dầy cộp ra phía cửa sổ, với đôi mắt nhìn trang sách cũng phải để sát dưới mười xăng-ti-mét. Vậy là cụ không nhìn vào không gian, cụ nhìn lại 16 năm hoạt động của Quỹ với bao kỷ niệm, bao con người, bao vùng đất thân thương:

- Vâng 16 năm! Khoảng hơn hai ngàn dự án đã được tài trợ, ông ạ! Chúng tôi đề ra mỗi tháng phải xuống thực địa một lần, kiểm tra tiền tài trợ đã được thực hiện đến đâu. Vậy là khoảng hơn hai trăm chuyến đi, các ủy viên có thể thay nhau, còn chủ tịch thì lúc nào cũng có mặt, trừ khi đau ốm không dậy nổi (mà tôi biết cụ rất ít đau ốm).

Nhà văn hóa Hữu Ngọc (đứng giữa) trao quà tặng của Quỹ Thụy Điển - Việt Nam phát triển văn hóa cho các câu lạc bộ tại Thái Nguyên.
 
- Thưa cụ, hình như Quỹ hoạt động ở phía Bắc nhiều hơn, vì bà con trong Nam đâu biết có Quỹ?

- Không phải thế đâu ông ạ! Phú Quốc, Côn Đảo tôi đều đi việc của Quỹ, có phải đi chơi đâu! Từ tài trợ nhạc cụ, trang phục và thiết bị cho đoàn Nghệ thuật múa trống Khmer ở Trà Vinh đến bảo tồn nhà thờ Tổ nghề ca Huế, cấp học bổng cho sinh viên văn hóa nghệ thuật Tiền Giang... Bà con Nam Bộ có sở thích hát cải lương, thường xóm xã nào cũng có đội đờn ca tài tử. Đàn dân tộc rất rẻ, chúng tôi đã tài trợ cho 200 đội, chỉ cần độ 200 triệu đồng. Số tiền bỏ ra rất ít mà có hiệu quả cao: vừa bảo tồn được vốn ca nhạc dân tộc, vừa giúp thanh niên xa lánh tệ nạn. Tiền chi không nhiều mà hiệu quả cao là một phương châm hoạt động của Quỹ... 16 năm hoạt động với hơn 2.000 dự án được thực hiện chỉ chi không tới 2 triệu USD.

Cụ Hữu Ngọc cười cởi mở, bổ sung:

- Mà đặc biệt, chi nhiều món như vậy mà không rơi vãi một xu vào khâu trung gian, bởi cũng không có khâu trung gian. Họa sĩ nghèo không đủ tiền triển lãm tranh, chúng tôi trực tiếp mời đến Quỹ ký nhận, không qua Hội Mỹ thuật hay Hội văn nghệ địa phương...

Tôi từng biết có những trường hợp không phải tham ô, nhưng khi có số tiền ngoài kế hoạch rót về địa phương, thường bị trích lại một tỷ lệ phần trăm nào đấy cho quỹ này, quỹ khác trước khi đến tay người nhận. Còn hôm tôi theo Quỹ về thôn Đan Nê dự lễ tiếp nhận Trống Đồng, đến bữa, chỉ thụ lễ có con gà luộc, nải chuối với ba đĩa xôi cho ba mâm chủ khách, bởi họ đã được báo trước: Người của Quỹ về dự không chấp nhận ăn uống tốn kém! Khi cần, Quỹ luôn có tiền công tác phí để trang trải, không phiền hà đến địa phương.

Tôi nghĩ sự trong sáng của Quỹ đã gắn liền với phẩm cách người điều hành. Không phải bỗng dưng, Đan Mạch cũng lập một Quỹ tài trợ văn hóa cho Việt Nam, hoạt động tương tự như Quỹ của Thụy Điển, cũng mời cụ Ngọc làm Chủ tịch một thời gian. Không phải bỗng dưng, có một số người nước ngoài gửi tiền nhờ cụ Hữu Ngọc lập Quỹ trợ giúp cho văn hóa Việt Nam, trong đó có một bà người Na Uy di chúc để lại tài sản trước khi qua đời, để cụ Hữu Ngọc toàn quyền trợ giúp những nơi có nhu cầu chính đáng...

Cụ Hữu Ngọc cho biết: Các nước giúp đỡ Việt Nam thường chỉ tập trung vào kinh tế. Thụy Điển là nước đi đầu giúp đỡ song song cả kinh tế, văn hóa. Quỹ Thụy Điển là tổ chức phi chính phủ nhưng không phi chính phủ hoàn toàn. Có hai quan sát viên là đại diện Bộ Văn hoá và đại diện sứ quán Thụy Điển tham dự, nhưng không được biểu quyết tài trợ. Chủ ý của Thụy Điển muốn đóng góp cho Việt Nam xóa đói giảm nghèo bằng cách giúp đỡ qua con đường xã hội dân sự của ta. Nghĩa là bớt gánh nặng cho chính phủ VN, đồng thời phát triển được hoạt động xã hội dân sự trong nhân dân.

Một số nhà nghiên cúu xã hội nước ngoài cho rằng: các nước phương Tây nay không còn dân chủ thực sự, vì chế độ nghị viện không còn đại diện cho dân mà là đại diện cho các phe phái muốn điều hành chính quyền. Muốn người dân hiểu được quyền lợi và trách nhiệm hoạt động xã hội dân sự của mình thì phải nâng cao dân trí. Vì vậy chúng tôi thành lập tủ sách Nâng cao dân trí, chi khoảng 10 triệu đồng một tủ sách, gồm các loại sách tham khảo tổng hợp về các nền văn minh thế giới, sách về luật, về nông nghiệp, y học... Chúng tôi xác định trí thức phổ biến nhất ở Việt Nam là thày trò các trường cấp III, mỗi huyện chọn được một vài trường, hiện đã cấp tủ sách này cho khoảng 200 trường trên toàn quốc.

- Thưa cụ, cụ đã đi nhiều nước, công việc bảo tồn vốn cổ của họ có gì khác với Việt Nam?

- Tôi rút ra đặc điểm: Ở các nước châu Âu, 90% công trình lớn nhỏ tập trung ở các thành phố, các bảo tàng, ở Việt Nam 90% rải ra khắp các làng trên cả nước. Chỗ nào cũng có đình, chùa miếu mạo, cho nên gìn giữ được phải nhờ ý thức toàn dân.

- Thưa cụ, ngoài những việc đã làm được, nay Quỹ ngừng hoạt động, cụ còn điều gì đáng tiếc nữa không?

- Tôi đau xót nhất là hàng chục vạn sắc phong ở các đình, đền đang bị thời gian, thời tiết nóng ẩm hủy hoại. Các cụ giữ đền thường để trong ống tre. Mưa gió, lụt lội khiến những tờ giấy bản dính bết vào nhau, hoặc bị mối xông, không có cách bảo quản khoa học. Đó là những tư liệu rất quý, về phương diện xã hội học, ngôn ngữ học, dấu tích lịch sử từng triều vua. Từ đó ta biết được phong tục tập quán, dân sinh, dân trí... Cả nước khoảng 500 huyện, mỗi huyện một hai chục xã đều có đình, đền. Nhiều đình đền có hàng chục sắc phong. Chúng tôi định tổ chức cho bồi lại. Nhưng cả Hà Nội chỉ có hai người biết bồi, 100.000 đồng một bản. Cho người đến mượn bản gốc để bồi lại, các cụ không cho mang đi, sợ mất, sợ bị lừa để lấy đi. Chúng tôi nghĩ cách chụp ảnh lại các sắc phong là tốt nhất. Thí điểm đầu tiên là tỉnh Hưng Yên, chúng tôi cung cấp máy ảnh, chi tiền công người đi chụp, rồi nhờ bảo vệ trong phòng lưu trữ Hán Nôm của Thư viện Trung ương. Chúng tôi đã làm lễ trao lại cho Thư viện, chỉ mới được một tỉnh, chưa kịp nhân ra các nơi khác...

Tôi sực nhớ sắp tới kỷ niệm ngày sinh cụ Hữu Ngọc: 22/12/08 là cụ tròn tuổi 90. Chao ôi! Con người cả đời làm biết bao việc hữu ích, 90 tuổi mới tạm gọi là nghỉ hưu mà vẫn còn tiếc hận, xót xa về sự mất mát vô hình của lịch sử.

Vân Long


Ý kiến của bạn