Mùa gặt sau nửa thế kỷ rời hang

Xã hội
Dân tộc Rục được xem là "người con út" của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Gần 50 năm trước, vào tháng 8/1959, các chiến sĩ đồn biên phòng Cà Xèng phát hiện 34 người Rục sống trong hang đá...

Dân tộc Rục được xem là "người con út" của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Gần 50 năm trước, vào tháng 8/1959, các chiến sĩ đồn biên phòng Cà Xèng phát hiện 34 người Rục sống trong hang đá... Lẫn khuất giữa đại ngàn Trường Sơn, người Rục sống gần như người nguyên thuỷ, lấy hang đá làm nhà, áo quần làm bằng vỏ cây. Trong câu chuyện kể bên bếp lửa của đồng bào Rục ngày hôm nay, không còn hình bóng của những ngày đói cơm nhạt muối nữa… Họ đã có mùa gặt đầu tiên theo đúng nghĩa đen sau 50 năm của hành trình rời hang đá.

Dù đã gần một tháng sau ngày gặt lúa, nhưng ông Trần Trực - trưởng bản của bản Yên Hợp (huyện Minh Hóa - tỉnh Quảng Bình) vẫn chưa quên được cảm giác lâng lâng khi cầm trên tay hạt lúa vàng óng ả. Bữa cơm gạo mới do chính tay mình làm ra sau bao nhiêu năm "ăn gạo của nhà nước cấp" cũng có mùi vị khác hẳn. "Lần đầu tiên đồng bào mình có được bữa cơm mới để cúng tổ tiên. Mình báo cáo với tổ tiên nhờ bộ đội giúp đỡ nên con cháu mới tự tay làm ra hạt gạo. Năm chục năm đồng bào mình rời khỏi hang đá, bộ đội biên phòng dạy cho cách ăn chín, uống nước đun sôi, ngủ bằng mùng, cầm cái cuốc, cái liềm, rồi cách làm lúa nước. Chừ chưa làm được hết các việc của lúa nước, nhưng được bộ đội biên phòng dạy cho nhiều vụ thì làm được, tự giác làm được" - Trần Trực phấn khởi.

Dưới sự hướng dẫn của chiến sĩ đồn biên phòng, đồng bào Rục lần đầu tiên cầm lềm gặt lúa.

"Đói không lo, no không mừng"

Ngay sau khi phát hiện "người con út" của đại gia đình Việt, nhà nước đã có chính sách bảo tồn dân tộc Rục, đầu tư tổ chức đời sống định canh định cư ở bản Mo Ó, Ồ Ồ và bản Ón, thuộc xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình. Theo tiếng Nguồn, Mo Ó nghĩa là khe suối, Ồ Ồ là tiếng nước chảy và Ón nghĩa là mới, ý chỉ nơi mới định cư. Đến nay, từ 34 con người giữa đại ngàn nguyên thủy, người Rục đã phát triển thành một cộng đồng khoảng 500 người. Trong gần nửa thế kỷ sống trong cộng đồng Việt, đồng bào Rục liên tục nhận được sự quan tâm và đầu tư của nhà nước, đoàn thể xã hội, những chương trình tài trợ quốc tế... Những ngôi nhà ngói khang trang đã được dựng lên, trẻ con được đến trường, người lớn được hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, được dạy cách mua bán...

Thế nhưng, cũng trong nửa thế kỷ đằng đẵng ấy, đã không ít lần, bà con đã rời bỏ cái nhà để quay lại cái hang khi nhà dột nát do không được chăm chút, sửa sang, sau khi ăn hết gạo trợ cấp, tiêu hết đồng tiền trợ cấp, khi đã đổi bò, đổi hạt giống lấy rượu... Nhận được gạo, mì, các nhu yếu phẩm như chăn, màn, ra-đi-ô..., người Rục theo thói quen thường đem đi đổi rượu. Thậm chí, những con bò được cấp phát để hỗ trợ dự án chăn nuôi, dù đã được khắc dấu, cũng bị người Rục mang đi đổi rượu. Cái vòng luẩn quẩn vào hang - ra bản đã là một trong những nguyên nhân khiến lộ trình hoà nhập cộng đồng của người Rục vẫn còn nhiều gập ghềnh, trong khi các tộc người khác như Sách, Vân Kiều, Mã Liềng... đã có sự bứt phá. Đến nay, trong bữa ăn của người Rục vẫn có món "truyền thống" gọi là bồi. Nguyên liệu chính của bồi là bột sắn ráo nước trộn thêm bột ngô. Câu cửa miệng của người Rục: "Plơi văng lo, đo văng mơng" - đói không lo, no không mừng cũng đồng thời là nguyên lý sống của người Rục. Lương thực cho đồng bào Rục, trong điều kiện như vậy, đã trở thành một bài toán nan giải của các cấp chính quyền và những ai quan tâm đến kế sách phát triển lâu dài của tộc người này.

Những năm đầu thế kỷ XXI, huyện, tỉnh đã cấp phát thóc giống cho bà con. Nhưng với cộng đồng người Rục, lúa nước là thứ xa lạ mà tổ tiên họ chưa bao giờ tận mắt thấy. Những đợt cấp giống lúa, người Rục vui mừng nhận, vui mừng cõng lên lưng rồi vượt dốc, lội suối về bản, nhưng đi được nửa đường, mùi rượu của cánh lái buôn đã níu chân họ lại, bao nhiêu thóc giống, đồng bào Rục đổi rượu uống say ngất ngưỡng, nằm ngủ ngay bên vệ đường. Cán bộ Nhà nước vào kiểm tra, hỏi sao không thấy lúa mọc, họ hồn nhiên trả lời: "Miềng đổi rượu uống cho ấm bụng". Ban dân tộc miền núi đổi "phương án", đưa cán bộ vào cắm bản, cầm tay chỉ việc cho đồng bào, đưa cả máy cày loại nhỏ vào tặng rồi xắn tay vào làm, để bà con "mục sở thị". Cả bản đứng bên bờ ruộng xem, cười, nói rôm rả. Những tưởng bà con làm được. Nhưng rồi sau đó, trên những thửa ruộng nhỏ, cỏ hoang mọc lấn. Cán bộ hỏi sao bà con không nhổ cỏ, chăm bón cho lúa, người Rục trả lời: "Cán bộ trồng lúa thì nhổ cỏ luôn. Miềng coi cán bộ nhổ có được không. Miềng thì chịu"

 Lần đầu tiên những đứa trẻ này cầm trên tay bát cơm gạo mới được trồng và thu hoạch ngay trên mảnh ruộng nhà.

Trao "cần câu" thay cho "con cá"

Đã nhiều năm nay, các chiến sĩ bộ đội biên phòng đồn 585 luôn trăn trở, phải chỉ dẫn sao cho đồng bào Rục trồng được lúa nước. "Bội đội biên phòng mời 3 trưởng bàn của Ón, Yên Hợp, Mò O, Ồ Ồ tới họp việc làm lúa nước. Nói mỏi miệng biên phòng nhưng các trưởng bản chưa thủng (nghe) tai, rứa là nói lại từ đầu. Nói một lần không ai biết, nói lần nữa bắt đầu thủng một chút, nói thêm, nói mãi rồi trưởng bản cũng thủng tai. Nhưng 2 trưởng bán Ón, Mò O Ồ Ồ nói tổ tiên chưa thấy mần, chừ con cháu mần sợ bị tổ tiên về trách phạt trái tục tổ tiên. Biên phòng lại giải thích, tổ tiên ưng con cháu ấm no, làm lúa là có gạo, thế mới là ấm no, khỏi đợi trợ cấp, trợ cấp khi hết gạo là chờ. Làm được lúa, thì khó mà đói cái bụng. Mạnh dạn mần, có biên phòng giúp đỡ. Rứa mà hai trưởng bản nớ vẫn lắc đầu, chịu. Nói cán bộ mần đi miềng coi cái đã" - Trần Trực kể một thôi một hồi chuyện những ngày đầu được vận động làm lúa nước. Trong lúc hai trưởng bản kia chịu, Trần Trực được biên phòng 585 hỏi có muốn làm không, Trần Trực được về dưới xuôi, ra huyện lỵ Quy Đạt (Minh Hoá) nhiều, thấy bà con làm lúa nước cũng nhiều nên nói: "Họ chịu, bản miềng mần".

Trần Trực quyết xong, bộ đội biên phòng 585 phân công lực lượng tham gia làm lúa nước với dân bản Yên Hợp. Chiếc máy cày do Ban dân tộc miền núi tặng chục năm nay được bộ đội biên phòng sửa, dầy máy cũng của biên phòng. Ngày đầu ra đồng, người Rục cả 3 bản được mời về mảnh đất Rục Làn của bản Yên Hợp xem bộ đội vỡ đất, đắp bờ, làm cỏ. Xong công đoạn đầu, máy cày được đưa ra, các chiến sĩ biên phòng bắt đầu cày, Trần Trực được ngồi cùng để cán bộ biên phòng hướng dẫn cách cày đất làm lúa. Dân bản đứng trên bờ trố mắt nhìn, cười, nói, khen: "Ua chà, hay". Xong đất, bộ đội biên phòng về đồn ngâm giống, mời Trần Trực lên đồn xem cách ngâm giống, ủ giống cho hạt lúa nảy mầm. Ngày ra gieo lúa, bà con cả ba bản đều đến xem. Bộ đội cầm thúng giống vãi đều trên ruộng, Trần Trực lội theo sau, mắt quan sát tay bộ đội làm, tai nghe lời giải thích tay phải nắm lỏng nắm giống để rưới đều trên đất ruộng. Gieo xong, vài ba ngày ra thăm lúa một lần, lần nào Trần Trực cũng được mời đi theo, dân bản cũng được động viên đi xem để học tập.

Trần Trực được giải thích trước lúc gieo phải bón phân xuống ruộng thế nào, lúa lên phải đưa nước vào ruộng ra làm sao. Khi lúa trổ đồng phải tăng cường phân đạm, nước tưới để lúa kết hạt chắc mẩy. Tất cả được Trần Trực cẩn thận ghi lại trong một quyển vở. Lần đầu tiên thấy lúa trổ bông, cả ba bản kéo nhau ra đồng xem, háo hức như đi hội. Mảnh ruộng chỉ một ngàn mét vuông nhưng ngày nào cũng có người tới xem thân lúa trổ bông trắng phau giữa bạt ngàn núi rừng biên giới. Lúc đầu họ lạ lẫm đến ngỡ ngàng, sau đó họ thích cái màu trắng đó vì được bộ đội giải thích sẽ cho họ gạo cơm. Có người không tin sẽ có gạo từ cái hoa trắng liền nói như Cao Cam: "Răng mà bộ đội biên phòng mần ra gạo từ hoa ni được hè". Biên phòng giải thích: "Phải chờ có lúa đã mới có gạo, có cơm, chờ như chờ mẹ đẻ con ấy". Người Rục chờ, và đến giữa tháng 6, lúa đã kết hạt chắc mẩy. Công lao đầu tiên thuộc về đồn biên phòng 585, bởi từ gieo trồng, đến bón phân đều do bộ đội biên phòng làm cho dân bản xem, Trần Trực được giao quản lý, nhổ cỏ. Lúa chín, người Rục cũng không hay, khi bộ đội biên phòng ra thăm, thông báo họ mới biết. Ngày gặt, chiến sĩ đồn biên phòng 585 đi mua liềm ở chợ huyện, tự tay gặt lấy, gia đình Trần Trực 6 người cũng được huy động xuống ruộng, nhìn bộ đội gặt, buộc lúa, tuốt lúa, phơi lúa đúng nắng rồi đưa vào bao cất. Người Rục cười khúc khích vì lạ. Trần Trực thú nhận: "Miềng nhận liều nhưng chẳng biết gặt, đến khi cầm liềm cũng không cầm đúng, chút nữa cắt đứt tay. Bộ đội biên phòng lại bày cách cầm liềm, bày xong mình cắt được. Cái cây lúa cứ kêu rột roạt khi liềm cắt đứt. Nghe sướng cái tai".

Bữa cơm mới được tổ chức tại nhà trưởng bản Trần Trực, có sự tham gia của bà con các bản người Rục anh em khác, đầm ấm và háo hức bởi những khởi đầu tốt đẹp. Đồn trưởn Đồn biên phòng 585 Nguyễn Xuân Diêu cho biết: vụ lúa sau, anh em chiến sĩ sẽ khai hoang hơn 5ha đất để giúp đồng bào Rục trồng lúa nước. Những năm sau, sẽ khai hoang thêm hàng chục héc ta để đồng bào đủ đất sản xuất. Bài toán lương thực cho người Rục, dù chưa hết khó khăn, nhưng đã bắt đầu có lời giải.  Dưới sự hướng dẫn của chiến sĩ đồn biên phòng, đồng bào Rục lần đầu tiên cầm liềm gặt lúa.

Ánh Ngọc


Ý kiến của bạn