Lựa chọn hàng đầu cho người bệnh

Y học 360
Các bác sĩ Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã tiến hành phương pháp can thiệp nút mạch cho một bệnh nhân bị dị dạng động tĩnh mạch (DDĐTM) thận.

Các bác sĩ Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã tiến hành phương pháp can thiệp nút mạch cho một bệnh nhân bị dị dạng động tĩnh mạch (DDĐTM) thận. Đây là trường hợp DDĐTM thận bẩm sinh đầu tiên được tiến hành can thiệp nội mạch thành công tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.

Bệnh nhân (BN) Nguyễn Hữu K. (nam, 23 tuổi, quê Thọ Xuân – Thanh Hóa) đang khỏe mạnh bình thường đột ngột thấy đái ra máu đỏ tươi toàn bãi. Ngay lập tức, K. được gia đình đưa vào khám ở Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Siêu âm có nhiều máu cục trong bàng quang, giãn nhẹ đài bể thận phải; các bác sĩ nghi ngờ có máu cục trong bể thận, ngoài ra không thấy dấu hiệu u thận, sỏi tiết niệu. Chụp cắt lớp ngay sau đó có hình ảnh nghi ngờ ổ dị dạng mạch ở cực dưới thận phải nhưng không thấy hiện hình tĩnh mạch thận ở thì động mạch. BN được điều trị nội khoa bằng bơm rửa bàng quang, nằm nghỉ tại giường và dùng thuốc co mạch bằng đường tiêm tĩnh mạch. BN không còn thiếu máu và nước tiểu trong dần 48 giờ sau đó. Sang đến ngày thứ 3, BN lại đột nhiên ra máu đỏ tươi và máu cục ồ ạt qua ống thông tiểu. BN được chỉ định chụp mạch thận cấp cứu để xác định nguyên nhân chảy máu và điều trị can thiệp. Hình chụp mạch phát hiện dị dạng thông giữa động và tĩnh mạch ở cực dưới thận phải. Nhóm can thiệp khoa Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đã quyết định phương pháp điều trị an toàn hiệu quả nhất là nút mạch. BN K. được chỉ định nút ổ dị dạng bằng can thiệp điện quang.

 Phim chụp dị dạng động tĩnh mạch thận phải của bệnh nhân.

Quá trình lấp đầy ổ dị dạng bằng vật liệu nút mạch

Kíp phẫu thuật gồm ThS.BS. Nguyễn Thái Bình, ThS.BS. Nguyễn Ngọc Cương và 2 kỹ thuật viên. Các BS đã rạch một đường nhỏ vào động mạch đùi qua 1 lỗ (đường kính < 3mm), qua đó đưa ống thông đi trong lòng mạch vào động mạch thận để chụp xác định vị trí của ổ dị dạng (để khẳng định lại kết quả chẩn đoán trên chụp cắt lớp), sau đó đưa ống thông siêu nhỏ (< 1mm) vào nhánh sâu nhất của ổ dị dạng; bơm vật liệu gây tắc mạch và hạn chế tối đa diện tích thiếu máu của nhu mô thận lành. Ổ dị dạng được lấp đầy bởi vật liệu nút mạch (ổ dị dạng được xác định có hai cuống mạch nuôi từ động mạch sau bể và được nút lần lượt hai cuống mạch bằng vòng xoắn kim loại coils và keo sinh học histoacryl). Toàn bộ quá trình được thực hiện trong vòng 1 giờ 30 phút. Sau nút mạch, ổ dị dạng được loại trừ hoàn toàn, không thấy tĩnh mạch dẫn lưu sớm ở thì động mạch.

Ngay sau can thiệp, BN chỉ còn đau vùng hạ sườn phải, triệu chứng đái máu giảm dần, không có dấu hiệu nhiễm trùng. Sau 5 ngày, BN hết đau, nước tiểu trong hoàn toàn, ăn uống bình thường và được xuất viện. Hai tháng sau, BN tái khám, kiểm tra thấy không có bất kỳ biểu hiện lâm sàng nào, huyết áp bình thường. Chụp cắt lớp không còn ổ dị dạng, không teo nhu mô thận, chỉ có một vùng nhỏ (khoảng 2cm2) mô cực dưới thận phải không được tưới máu (phần thận bắt buộc phải hy sinh để gây tắc ổ dị dạng. Theo các BS, phần gây tắc này không ảnh hưởng gì đến chức năng của thận).

 Ảnh minh họa (nguồn Internet)

Nút mạch - Lựa chọn hàng đầu cho bệnh DDĐTM thận

 

Theo các bác sĩ khoa Ngoại và khoa Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, điều trị DDĐTM thận dựa vào thể bệnh và triệu chứng lâm sàng. Nhiều trường hợp ổ dị dạng nhỏ, không biểu hiện triệu chứng và có thể thoái triển do xuất hiện huyết khối tắc ổ dị dạng. Điều trị được chỉ định cho những trường hợp có triệu chứng đái máu hoặc vỡ ổ dị dạng gây đái máu ồ ạt. Trước đây, để điều trị DDĐTM thận thì phương pháp thường được lựa chọn là phẫu thuật cắt thận một phần hoặc toàn bộ. Đến nay, với sự tiến bộ trong kỹ thuật can thiệp mạch, sự sẵn có của các vật liệu nút mạch đã cho phép có thêm sự lựa chọn điều trị an toàn, hiệu quả cho BN. BN không phải mổ, không phải gây mê (tránh được các biến chứng do gây mê và biến chứng từ một cuộc đại phẫu). Tỷ lệ biến chứng gặp rất ít so với phẫu thuật. Phần nhu mô thận lành được giữ lại tối đa. Thời gian tiến hành nhanh hơn so với phẫu thuật. Thông thường, một số bệnh nhân chỉ có biểu hiện đau vùng thắt lưng, sốt, buồn nôn, nôn.
 
Các triệu chứng trên thường không nặng và không kéo dài quá một tuần. Tuy nhiên, BS. Bình cũng cho biết, nguy cơ có thể gặp ở một số ít bệnh nhân được can thiệp bằng phương pháp nút mạch là hóa chất trào ngược vào nhánh mạch lành, thậm chí có thể trào ngược vào động mạch thận gây thiếu máu, hoại tử nhu mô thận. Để khắc phục nhược điểm trên, quá trình nút mạch cần được tiến hành chọn lọc kỹ càng để hạn chế gây tắc các nhánh mạch lành. Với một số trường hợp dị dạng lớn, chi phí có thể lên cao hoặc có những BN không được chỉ định áp dụng phương pháp này mới phải tiến hành phẫu thuật. 

Một dạng bệnh hiếm gặp

*ThS.BS. Nguyễn Thái Bình, người trực tiếp thực hiện phương pháp nút mạch cho BN Nguyễn Hữu K. cho biết, DDĐTM thận là hiện tượng thông thương trực tiếp dòng máu động mạch sang tĩnh mạch qua hệ mạch bất thường. Bệnh có thể do bẩm sinh hoặc mắc phải do chấn thương, do phẫu thuật và sinh thiết. DDĐTM thận bẩm sinh là một bệnh hiếm gặp, chiếm tỷ lệ 1 BN/ 40.000 BN. Đây là trường hợp DDĐTM thận đầu tiên được tiến hành nút mạch thành công tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.

* Bệnh không có căn nguyên cụ thể nhưng rất nguy hiểm khi vỡ gây mất máu (do đái máu ồ ạt). DDĐTM thận mắc phải thường có luồng thông lớn và được gọi bằng thuật ngữ rò động – tĩnh mạch. Nguyên nhân rò động – tĩnh mạch có thể do chấn thương, sau mổ sỏi thận, mổ cắt thận bán phần, u thận. Đa phần các bệnh lý về mạch thận có thể tiến hành can thiệp nội mạch và khỏi hoàn toàn, một số ít phải mổ cắt thận.

 

     Mai Linh
Ý kiến của bạn