Làng thèm đất

Thời sự
Người ta thường nói nông dân gắn liền với đất đai. Vậy mà một xã được mệnh là xã "thèm đất" vì cả xã có 1.700 nhân khẩu mà diện tích chưa đầy nửa cây số vuông. Đây là địa phương duy nhất ở Thanh Hóa không có đất nông nghiệp.

Người ta thường nói nông dân gắn liền với đất đai. Vậy mà một xã được mệnh là xã "thèm đất" vì cả xã có 1.700 nhân khẩu mà diện tích chưa đầy nửa cây số vuông. Đây là địa phương duy nhất ở Thanh Hóa không có đất nông nghiệp. Người dân ở đây phải phụ thuộc vào biển, gắn cuộc sống của mình với cái tôm cái tép và những sóng gió bịt bùng trùng khơi.

"Chúng tôi... thèm đất!"

Đó là tâm sự của nhiều người dân xã Ngư Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Người trẻ còn đỡ, với những người già, tuổi cao sức yếu, họ ao ước có đất biết nhường nào. Thực tế là gần 2.000 người sống trên một diện tích đất chưa đầy nửa cây số vuông (0,47km2). Cái rau ăn phải đi mua hoàn toàn ngoài chợ. Ngoài bám vào biển, họ chưa tìm ra một điểm nào khác để bấu víu. Trong khi nguồn tài nguyên biển ngày càng cạn kiệt, việc đánh bắt không phải lúc nào cũng đạt sản lượng như mong muốn, mà dân số thì ngày càng tăng. Phó Chủ tịch UBND xã Ngư Lộc Nguyễn Văn Ngữ cho rằng việc giải quyết công ăn việc làm ở xã là rất nan giải. Một nửa số lao động đang thiếu việc làm trầm trọng. Khi thiếu công ăn việc làm, họ đổ ra Hà Nội, Sài Gòn, thành phố Thanh Hóa... để tìm kế sinh nhai. Bởi vì nơi đây đất chật người đông, biển cả rộng đến mấy cũng không dung nạp hết số phận của ngần ấy con người. Đã khó lại càng khó. Khi cuộc sống quá vất vả thì chẳng ai quan tâm nhiều đến chuyện học hành của con cái. Chúng phần lớn chỉ được theo học hết cấp II rồi nghỉ ở nhà ra biển, chạy chợ hoặc đi làm thuê. Lớn lên tí chút thì xây dựng gia đình, sinh con đẻ cái, luẩn quẩn vào vòng mưu sinh nghiệt ngã.

 Người dân nơi đây đã bao đời gắn bó với vị mặn mòi của biển cả.
 
Tôi đến gặp ông Phan Văn Oanh, một ngư dân kỳ cựu có 7 người con thì cả 7 đều xây dựng gia đình và theo cha làm nghề chài lưới, sống với biển. Từ độ "bão giá", tất cả các con ông đều chán nản với nghề, đang tìm cách xoay xỏa cho qua ngày đoạn tháng. Việc bỏ làng ra đi, hay cứ đâm ra biển đều không hề hữu hiệu. Ông Oanh thì già rồi, muốn một ngày sống bình yên cũng không được. Làm sao ông có thể sống bình yên được khi con ông đang sống khổ, các cháu nheo nhóc bẩn thỉu. Ông tâm sự: "Trời sinh voi không sinh cỏ ư? Chẳng lẽ dân chúng tôi cứ chịu mãi cảnh sống nhờ biển, rồi có lúc chết hết cả. Con cá cái tôm ngày càng khó kiếm. Đồng tiền cũng ngày càng mất giá mà không dễ kiếm chút nào". Cái triết lý của một người già chỉ biết lờ mờ mấy chữ xem ra cũng sâu sắc. Tôi càng hiểu nỗi lo về cái ăn cái ở của người dân, của những người già như ông. Người dân nơi khác có ruộng vườn, người ta còn bấu víu vào ruộng vườn để có cái rau, bát cháo qua ngày. Đằng này người đông, nhà cửa sát sạt nhau, đến cái nhà cũng khó thở chứ không nói gì đến con người. Trên bãi biển, nơi những con thuyền nhỏ nằm "phơi xác" trong gió và nắng vì không có xăng dầu để ra khơi, ông Hoàng Văn Thư ngư dân thôn Thắng Lộc, xã Ngư Lộc mệt mỏi nói: "Những người như tôi rồi sẽ có lúc chẳng thể ra khơi được nữa, có nguồn thu nhập gì để sống đây. Dựa vào con cái à? Con cái nó còn phải nuôi con chúng nó. Đành rằng chúng nó không thể bỏ mình, thì mình cũng phải hiểu, nên cuộc sống sẽ vất vả lắm". Tôi biết, nếu một mai không có sự thay đổi nào khác cho những thân phận biển, thì chẳng biết vài chục năm nữa, những đứa trẻ sinh ra ngày càng nhiều, sẽ sống ở đâu. Đó không chỉ là suy nghĩ của ông Thư, ông Oanh, các lão làng khác mà thế hệ tuổi trẻ của xã cũng đang tính đến chuyện này.

Người dân Ngư Lộc sẽ sống thế nào nếu không tìm cho mình một kế sinh nhai khác. Tương lai của họ đang mịt mù. Lớp trẻ lớn lên cũng chỉ cần biết đi biển để kiếm sống. Chúng phải khác, phải được học hành. Cho đến bây giờ mà cả xã chỉ có vài người học lên cao đẳng, đại học. Những người có trách nhiệm của xã, cần phải lưu tâm đến chuyện này hơn. Bởi họ không thể phụ thuộc mãi vào biển. Tài nguyên biển cũng đến lúc cạn kiệt.

Nơi đầu sóng ngọn gió

Nửa đêm, khi những người bình thường mới say vào giấc ngủ, thì người dân ở xã Ngư Lộc đã phải trở dậy để ra khơi. Họ kéo thành từng đoàn, đoàn nhỏ chừng chục người, đoàn đông lên đến vài chục. Có khi họ kết hợp 2- 3 gia đình lại với nhau. Không có đất nông nghiệp, họ mưu sinh bằng nghề đánh bắt, sống nhờ biển khơi. Nhưng cuộc sống của họ đầy bất trắc, có phải ai cũng có sức ra biển. Chỉ những đàn ông, những người đàn bà khỏe mới có khả năng này. Còn một số lượng lớn người già và trẻ nhỏ phải sống nhờ những người đi biển kiếm cá, để có tiền chi dùng cho những sinh hoạt hằng ngày. Đứa trẻ sinh ra đã biết vị mặn mòi của biển, vị tanh nồng của sinh vật biển, nhưng phải đến tuổi 14, 15, có sức chúng mới được phép ra khơi.

 Chuẩn bị ra khơi.
 
Ông Hoàng Văn Thư ngậm ngùi: "Ông trời có đức hiếu sinh, không cho xã Ngư Lộc đất thì cho biển. Nhưng để sống được với biển vất vả hơn nhiều. Nếu không có biển người dân sẽ biết làm gì đây". Chỉ còn kém một tuổi nữa là tròn 70. Ông già đen nhẻm, da mặt sạm sần sùi vì nhiều năm tiếp xúc với nắng và gió biển, chịu sự chà xát của cái mặn mòi biển khơi. Ông cũng không rõ đã bao nhiêu đời người sống và đánh cá trên cái xã biển này, chỉ nhớ rằng khi xưa, ông còn nhỏ đã theo cha ra biển. Giờ nghề đó lại truyền sang đời con, đời cháu.

Cứ đến khoảng 1 giờ 30 đêm là bố con ông trở dậy ra khơi, chỉ trừ ngày giông gió. Con trai ông - Hoàng Văn Đông là chủ tàu năm nay mới 24 tuổi, có thân hình chắc khỏe và gân guốc. Dù ít tuổi nhưng đã có thâm niên 10 năm đi biển. Nhìn khuôn mặt già trước tuổi của anh, người ta nghĩ ngay anh là người đã trải nhiều sương gió. Con trai ở đây cứ 14 tuổi trở đi là được gia đình cho ra biển tập. Đó được gọi là cái tuổi đã "trưởng thành" rồi. Con em được sinh ra bởi bố mẹ làm nghề biển, quanh năm chỉ quen với sóng gió, mặt nước mênh mông và hải sản. Chẳng cần phải học hành chữ nghĩa nhiều làm gì, học đủ để đọc được giấy và cộng trừ tiền, tính được lãi lời từ công việc của mình là nghỉ.

Người dân ở đây phải thuộc biển như lòng bàn tay mới có thể sống được với biển. Họ còn có bí quyết đọc được tính nết theo mùa của biển. Điều này do kinh nghiệm lâu đời đúc rút ra. Để có thể biết được hôm nay thời tiết thế nào, ngoài xem tivi ra họ quan sát hướng gió và màu nước, cường độ của sóng. Nhưng nhiều khi tính khí biển thất thường, không thể đoán biết trọn vẹn được, nên có những người gặp sự cố bất thường, gây tổn thất lớn, như bị lật thuyền, vỡ thuyền... thiệt hại về người và của là rất lớn. Biết là nguy hiểm, khó khăn vất vả, người dân vẫn phải cố gắng làm lụng, rồi cầu trời khấn Phật cho trời yên biển lặng, để việc đánh bắt thuận lợi và an toàn. Chúng tôi may mắn có dịp ra khơi cùng những người dân. Trước khi đi phải chuẩn bị tinh thần từ đêm trước. Khi con mắt còn muốn nhắm thêm nữa thì đã phải trở dậy. Trời không may gió mạnh hơn mọi hôm, sóng vỗ ập òa vào thuyền khiến nó lắc lư. Tôi thấy rùng mình. Ông Thư bảo: "Người đi không quen rất khó chịu, dễ bị say sóng rồi gây ốm và mệt mỏi. Như vậy để anh biết cụôc sống người đi biển chúng tôi". Sau 4 giờ chạy, cũng đi cách bờ chừng 30 hải lý. Nhìn vào phía đất liền đã thấy bình minh đang ló rạng. Họ say sưa, cần mẫn làm việc, thả lưới, kéo, gom cá lại. Chút ít giờ nghỉ trưa, tôi được ông Thư kể chuyện về tai họa mà xã phải gánh chịu năm 1996 do trận áp thấp nhiệt đới gần bờ gây ra, đã cướp đi sinh mạng của 100 người con của xã đang ở tuổi sung sức. Những ngày tang tóc đau đớn diễn ra dài dài. Giờ khá hơn, người đi biển đã có phương tiện để thông tin, có bộ đàm để liên lạc với đất liền. Tàu nào cũng có máy định vị, cho nên rủi ro giảm nhiều.

Thường khoảng 3-4 giờ chiều thuyền quay về đất liền. Nhưng có những đoàn tàu lớn, họ kéo nhau ra biển đánh bắt, ở ngoài khơi mênh mông cả tháng trời mới về. Những người vợ trẻ đang đợi chồng, những đứa con ngóng bố. Và phải khi nào thấy người thân của mình thực sự an toàn, người đợi mới thở phào nhẹ nhõm.

Bài và ảnh: Nguyễn Văn Hoan


Ý kiến của bạn