Dù con nước êm đềm hay khi hung dữ, họ vẫn một tay chống chèo hàng ngàn chuyến đò đưa khách sang sông an toàn và đã từng giành lại mạng sống cho nhiều người trước ngưỡng cửa tử, họ được phong danh là những "khắc tinh" của thuỷ thần Hương Giang.
Giữa những ngày "chạm gót" mùa mưa bão ở Thừa Thiên Huế, dòng luồng của sông Hương đã dâng cao và chảy xiết hơn thường. Hỏi thăm chị Xê và bác Tiến làm nghề đưa đò, những cư dân vùng thượng nguồn sông Hương (xã Hương Thọ, huyện Hương Trà) không những biết mà còn kể rạch ròi về họ...
|
Gần 10 năm qua, "khắc tinh" của thuỷ thần Nguyễn Văn Tiến đã vận mình vào bến sông đưa đò giúp bà con. |
"Cầu di động" o Xê
Dòng Hương Giang trước khi hoà làm một đổ ra biển lớn đã xẻ đất thành ba vệt nước ngoằn ngoèo qua xã Hương Thọ. Địa thế là vậy làm cho khoảng cách giữa các thôn làng càng xa hơn. Mùa bão lũ cứ đến hẹn lại lên, thuỷ thần lồng lộn cuốn phăng nhiều ruộng vườn, làng mạc, cướp đi nhiều mạng người xấu số.
Dọc thượng nguồn nơi đây, nay vẫn chưa có cầu nên các thôn La Khe Trẹm, Kim Ngọc, Định Cư, Thạch Hàn... (xã Hương Thọ) chỉ còn cách qua sông bằng thuyền đò nếu muốn thương lưu với nhau và với xã Thuỷ Bằng (huyện Hương Thủy, Thừa Thiên Huế). Còn nếu theo đường bộ qua cầu treo Bình Thành thì phải đi vòng khoảng 15km. Là độ dài luân chuyển ấy quá xa xỉ đối với hàng hoá phục vụ ở làng quê và người dân qua lại. Bởi địa thế hóc hiểm ấy, con thuyền của o Xê (o là đại từ nhân xưng theo tiếng địa phương, có nghĩa như cô - PV) ở bến Kim Ngọc đã trở thành một "nhịp cầu di động" không thể thiếu.
Xuất thân trong một gia đình nghèo theo nghiệp sông nước ở thôn Kim Ngọc, tuổi thơ o Trần Thị Xê (sinh năm 1959) gắn với những buổi ngược xuôi theo cha trên dòng Hương Giang. Chẳng biết từ bao giờ, o đã thuộc nằm lòng từng cách rẽ mái chèo, lách luồng nước tuỳ từng dòng chảy. Để đến nay, với 41 tuổi nghề quăng quật giữa sông nước, o Xê đã nhớ như đinh đóng vào cột và thuộc như lòng bàn tay từng luồng nước, ngóc ngách của dòng sông.
|
Căn chòi tạm bợ bên bến Định Cư mà bác Tiến cùng đứa con trai đang ngồi là chỗ nghỉ ngơi của bác suốt 10 năm qua sau những chuyến đò ngang. |
Cũng bởi thế mà tay lái o vững, khách qua đò rất tin tưởng, vững tâm bước lên thuyền và chưa bao giờ o để xảy ra một sơ sẩy đáng tiếc nào. Nhưng "đã dong thuyền ra là tui nắm trong tay hàng chục sinh mệnh, mọi chuyện tai hại có thể xảy ra nếu ta xem thường sóng nước. Hễ thấy sông mà có dấu hiệu bất ổn thì việc an toàn tuyệt đối cho bà con là phải đợi, không đi liều được".
Đến mùa lũ thì o Xê phải vất vả gấp bội phần. Mấy ngày liền mà nhịp cầu o Xê không nối bờ, các hoạt động chợ búa, lao động, sinh hoạt của cư dân đôi bờ như chững lại. Chỉ cần nắm được một khoảng thời gian sóng gió yên ả, o lập tức cho thuyền nổ máy vượt sông ngay. "Bà con đã tin tưởng thì tui phải tập trung cao độ, mắt phải như găm vào luồng nước, không thể để một giây sơ sẩy".
Đối với nhiều bà con nơi thượng nguồn này, o Xê không chỉ là một người đưa đò bình thường mà đã là ân nhân. Chuyện đợt lũ cuối năm ngoái bà con vẫn hay kể. Bởi chủ quan mà nhiều gia đình ở Kim Ngọc không chịu di tản. Khi nước lên cao thì cảnh hỗn loạn xảy ra. O Xê đưa cả 3 chiếc thuyền của gia đình ra rồi huy động thêm người lái đưa bà con lên đồi Trường Thành tránh con nước dữ.
Ông Nguyễn Hữu Hùng - một người được o Xê cứu sống khi đang chới với giữa sóng nước đợt ấy, kể: "Nước lên nhanh, nhà tui ở sâu trong xóm, kêu cứu không ai nghe. May có o Xê chèo thuyền vô cứu". Xong xuôi, o tất tả về nhà nấu cơm, vắt thành nắm, lên tiếp tế cho bà con. Lũ rút đi, UBND xã Hương Thọ đã thưởng cho o Xê 500.000 đồng và một thùng mì tôm. Nhưng đối với o, món quà lớn làm o thấy "sướng bụng" nhất là sau lũ dữ, cả thôn Kim Ngọc không có ai bị nước cuốn đi.
Một đêm cuối 1999, trời mưa to, chị Nguyễn Thị Tuyết (ở thôn Kim Ngọc) đang thai nghén tháng thứ 8 thì bụng đau dữ dội rồi ngất đi. 3 giờ sáng mà đi vòng cầu treo Bình Thành thì nguy mất. O Xê không chút ngần ngại kéo thuyền ra đưa thai phụ sang sông, rồi gọi xe đưa đi bệnh viện cấp cứu kịp thời nên cả thai nhi và sản phụ qua cơn nguy kịch. Sau khi sinh con, chị Tuyết đã mang cháu bé đến xin nhận o Xê làm mẹ nuôi.
O Xê đã sắp bước sang tuổi 52, "nhiều lúc tui cũng muốn nghỉ ngơi nhưng thấy bà con ở đây ao ước mãi vẫn chưa có cầu, tự sang sông thì nguy hiểm quá. Thôi gắng...". Hiện tại, o vẫn một mình sống với mẹ già và người em gái. Nhưng o xua tay: "Chưa bao giờ tui thấy cô đơn cả, bởi nghề này đã làm tui được thân thiết với mọi người và được giúp đỡ bà con...". Đúng là o không cô đơn vì những việc mà o đã làm được.
|
Ở tuổi 51, "nhiều lúc cũng muốn nghỉ ngơi nhưng thấy bà con ở đây ao ước mãi vẫn chưa có cầu, tự sang sông thì nguy hiểm quá. Thôi gắng..." - o Xê tâm sự. |
Người gác "cửa tử" ở bến Định Cư
Bến Định Cư buổi chập tối đã vắng khách, chỉ còn lại một mình bác Nguyễn Văn Tiến đang thu dọn đồ đạc trong căn chòi đơn sơ bên bến. Gần 10 năm ròng rã, lý do làm bác vận đời mình vào bến sông này là vì mẹ, vì bà con nơi đây chứ không vì chính bản thân mình.
Năm 1985, bác đưa vợ cùng hai đứa con ra Định Cư (xã Hương Thọ) để cất nhà ở riêng. Cũng từ đó, bác phải chứng kiến cảnh tang thương của nhiều chuyến đò ngang bị lật chìm và trở thành một nỗi ám ảnh day dứt mãi trong suy nghĩ của bác. Đau đớn nhất là vào tháng 8/2001, mẹ bác là bà Nguyễn Thị Chắt (đưa đò ở bến Đá Hàn) sau chuyến đưa khách sang sông đã không về nữa. Luồng lũ cuộn bất ngờ ập về đã mang bà đi mãi... Suốt mấy tháng liền sau, bà con ở Đá Hàn, Kim Ngọc phải tự chèo đò nhỏ để sang sông. Không ai còn dám đứng ra thay việc bà Chắt.
Thương cảnh bà con phải tự sang sông và lo nếu lỡ bất trắc, không biết bao nhiêu người sẽ phải chịu cảnh mất người thân như mình. Rồi "tui bàn với vợ, tui đi học chứng chỉ về lái đò. Vợ tui phản đối kịch liệt vì nỗi đau mất mẹ vẫn còn đó... Nhưng tui vẫn giữ ý định, cả tuần bà giận, không nói gì" - bác Tiến kể. "Phải có được cái chứng chỉ để bà con tin cẩn mới giao nhiệm vụ cho mình. Ngoài kiến thức về nghề trong sách vở, muốn nắm được cái nguy hiểm của khúc sông này thì phải thực tế nhiều mới biết".
|
Cũng như o Xê, một nguyên tắc bất di bất dịch của bác Tiến (người đội mũ trắng) là "khách đã lên thuyền là phải mang áo phao để đảm bảo an toàn tuyệt đối" - bác nói. |
Ngày bác khăn gói về TP. Huế học chứng chỉ điều khiển các phương tiện giao thông đường thuỷ nội địa, nhiều người xì xào: "Thằng Tiến khùng rồi, bây giờ chưa có người lái đò thì sau cũng sẽ có. Mất mẹ rồi đã chưa đủ đau sao?". Nhưng bác đã quyết, bỏ ngoài tai tất cả những lời ngăn can. Rồi bác dựng một căn chòi đơn sơ bên bến Định Cư để thay nghiệp mẹ. Việc bác Tiến lên Ủy ban xã Hương Thọ xin được cấp thuyền máy, áo phao cứu hộ cho bến Định Cư hoạt động trở lại được bà con rất hưởng ứng.
Hàng tháng, ngoài việc nộp 800 nghìn đồng cho uỷ ban phí hoạt động, trừ tiền xăng dầu, bảo dưỡng máy..., số tiền còn lại chỉ đủ để bác tiêu vặt và đến năm học mới cho mỗi đứa con một bộ đồ mới. "Bà con cũng khó như tui, giúp bà con thì có chi đáng kể? Nghĩa tình mới đáng trọng. Vất vả tui đâu ngại..." - bác tâm niệm.
Bác vẫn nhớ như in cái buổi sáng giữa trận "đại hồng thuỷ" năm 1999. Mưa trắng đêm, vừa sáng trời là lũ nguồn ập về. Chẳng ai kịp trở tay, nước ngập tới ngực người, bà con đôi bờ Kim Ngọc, La Khe Trẹm chỉ biết quơ quạ giữa biển nước mà kêu cứu. May mắn thay, từng chuyến đò của bác Tiến đã đưa được hàng trăm người thoát lũ lên các khoảng đất cao hơn.
Rồi năm 2009, khi vừa xong một lượt đò, bác Tiến đang ngồi trong chòi nghỉ trưa thì bỗng nghe có tiếng người đứt quãng. Nhanh như cắt, bác đẩy thuyền ra, đứa con trai quay máy, bác cứu được hai học sinh (ở thôn Định Cư) bị chuột rút khi đang tắm sông.
Nhiều người từ suy nghĩ về một bác Tiến "khùng", "dại" thì nay đã xem bác như "vị cứu tinh" cho cuộc sống của bà con nơi thượng nguồn Hương Giang.
Phóng sự của TRẦN NGUYÊN PHONG