Giá trị của tự do

Văn hóa – Giải trí
Áp bức và bạo tàn khiến các dân tộc thấm thía về giá trị của tự do" - đó là lời của Tổng thống Mỹ F. D. Roosevelt được Đại tướng Võ Nguyên Giáp trích dẫn ngày 2/9/1945.

Áp bức và bạo tàn khiến các dân tộc thấm thía về giá trị của tự do" - đó là lời của Tổng thống Mỹ F. D. Roosevelt được Đại tướng Võ Nguyên Giáp trích dẫn ngày 2/9/1945. Có người coi Franklin D.Roosevelt (1882-1945) là một trong những vị Tổng thống xuất sắc nhất của Hoa Kỳ, người đã lãnh đạo đất nước 3 nhiệm kỳ Tổng thống và đã trúng nhiệm kỳ thứ tư trước khi qua đời. Với một nhân cách vô cùng hấp dẫn, dáng người lịch sự, ăn nói lôi cuốn, qua đài phát thanh, ông tranh thủ được sự tin tưởng của quần chúng vào lúc đất nước đang lâm vào cảnh vô cùng khó khăn.

Xuất thân từ một gia đình quyền quý, anh em họ với cựu Tổng thống Theodore Roosevelt, ông bước vào con đường làm chính trị. Ông đang lên như diều gặp gió thì năm 39 tuổi, ông bị bệnh bại liệt, liệt cả hai chân. Ông vượt qua bệnh tật, tiếp tục sự nghiệp. Quần chúng dường như có niềm tin là một người giàu sang như vậy mà khuất phục được số phận bản thân, ắt cảm thông với nỗi khổ mọi người và có cách giúp đất nước vượt qua hoạn nạn.

Năm 28 tuổi, ông được bầu vào Thượng nghị viện (thuộc đảng Dân chủ) của bang New York. 3 năm sau, ông được cử làm Thứ trưởng Bộ Hải quân, rồi được bầu làm Tổng thống Mỹ đúng vào lúc khủng hoảng kinh tế thế giới. Hoa Kỳ ở trong một cuộc suy thoái kinh tế hầu như tuyệt vọng. Ngày 4/3/1933, trong bài diễn văn nhậm chức, ông tuyên bố một câu đanh thép: "Điều duy nhất đáng sợ là bản thân sự sợ hãi!". Là một người có tài thực dụng, Roosevelt chọn được một êkip tham mưu có trí tuệ và đưa ra một "chính sách mới" nhằm đẩy lùi cuộc khủng hoảng. Biết rút kinh nghiệm kịp thời, ông mạnh dạn thay đổi hệ thống kinh tế, hoàn cảnh xã hội và các lề lối chính trị Mỹ. Ông làm việc sít sao với Quốc hội, đề ra đạo luật nhằm canh tân và vực một nền kinh tế lụn bại đi lên. Mãi đến năm 1939, cơ chế pháp luật chính sách mới của ông mới thực sự bắt đầu có hiệu quả. Nhưng trong thời gian 100 ngày (tháng 4 - tháng 6/1933), Quốc hội đã làm việc với ông về một loạt đạo luật cơ bản. Cuộc Cách mạng Roosevelt nhằm 2 mục đích: Chính quyền Liên bang nắm quyền điều khiển kinh tế chứ không phải là chính quyền từng bang, do đó, quyền của Tổng thống Liên bang tăng lên. Nhà nước cải tiến phúc lợi của đại chúng, có dáng dấp dân chủ - xã hội, như vậy, đụng đến quyền lợi các chủ tư bản. Mới đầu, Tòa án tối cao và những lực lượng bảo thủ lên án Roosevelt vi phạm Hiến pháp, ngả theo Cộng sản. Nhưng do thắng lợi rực rỡ: Roosevelt được bầu Tổng thống lần thứ hai vào năm 1937, Chín ông già (Nine Old Men) của Tòa án tối cao phải thông qua "Chính sách mới". Những cải cách của Roosevelt (cắt bớt hoạt động kinh doanh sản xuất để giữ giá, mở công trường lớn của Nhà nước để tăng công ăn việc làm, tăng phúc lợi cho người nghèo..., mới đầu ít hiệu quả, kinh tế có vẻ như thụt lùi. Mãi đến khi Thế chiến II bắt đầu, cơ chế mới thực sự phát huy tác động. Điều chính yếu là Roosevelt đã truyền lại cho đồng bào nghị lực, sự phấn khởi và sức sống của bản thân, những điều mà cuộc khủng hoảng đã lấy mất đi của họ.

Dần dần, các vấn đề đối ngoại nổi bật lên, Roosevelt phải khéo léo viết thư cho Hitler vừa cương quyết vừa mềm dẻo để Hitler tuyên bố thôi đánh chiếm các nước khác thì Hoa Kỳ hiện không dính líu đến cuộc tranh chấp, sẽ đứng vai trò trung gian hữu nghị dàn xếp tình hình quốc tế đang diễn ra phức tạp... Dĩ nhiên là chiến sự cứ bùng nổ với sự tham lam không giới hạn của phe phát xít.

Trong bản thông điệp hàng năm gửi Quốc hội (4/1939), Roosevelt viết: "Bão táp từ bên ngoài trực tiếp thách thức ba thể chế thiết yếu của người Mỹ từ xưa đến nay. Trước tiên là tôn giáo, gốc của hai thể chế kia: dân chủ và chữ tín quốc tế. Tôn giáo dạy cho con người quan hệ đối với thượng đế, do đó, mang lại cho cá nhân ý thức về bản thân nhân phẩm của mình, tự trọng qua sự trọng người khác. Dân chủ là khế ước giữa những người tự do. Chữ tín quốc tế gắn liền với dân chủ, xuất phát từ ý muốn các quốc gia văn minh tôn trọng quyền lợi và tự do của các quốc gia khác... Đã có lần tôi tiên tri là thế hệ người Mỹ chúng ta có cuộc hẹn với số mệnh. Điều tiên tri ấy đang thành sự thật... Thế hệ chúng ta sẽ cứu vớt một cách cao cả hay bỏ mất một cách ti tiện niềm hy vọng tốt đẹp nhất cuối cùng của trái đất…".

Mãi đến khi Nhật Bản oanh tạc Trân Châu Cảng (7/12/1942), ý chí tham chiến của Hoa Kỳ mới rõ rệt. Việc Hoa Kỳ tham chiến đã là đòn bẩy kinh tế trong nước, đồng thời ngày càng làm lệch cán cân lực lượng về phía đồng minh. Nhưng Roosevelt tiếc thay đã không được nhìn thấy chiến tranh kết thúc. Ông mất năm 63 tuổi, một tháng trước khi phát xít Đức đầu hàng.

Nhà sử học Mỹ David Marr cho biết: Ngược với Churchill, Tổng thống F.Roosevelt vốn chống chủ nghĩa thực dân, ông lên án chính sách thực dân Pháp ở Đông Dương. Ông cho là Pháp không xứng được giữ Đông Dương. Thực dân Pháp cai trị tồi tệ, ngược đãi dân bản xứ, lại đầu hàng và phục vụ phát xít Nhật. Năm vị Tổng thống Mỹ kế nghiệp ông đều làm ngược ý nguyện của ông, giúp Pháp hòng chiếm lại thuộc địa Đông Dương.

Trên lễ đài Ba Đình ngày 2/9/1945, sau khi Cụ Hồ đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, ông Võ Nguyên Giáp đã phát biểu ý kiến và nhắc lại câu nói của F. Roosevelt như trên.

Hữu Ngọc


Ý kiến của bạn