Quảng Bình, dải đất hẹp miền Trung, trong chiến tranh chống Mỹ vốn là nơi đầu sóng ngọn gió, đã trở thành biểu tượng kiên cường bất khuất của người Việt Nam. Khi đất nước hoà bình, giống như trong một câu thơ: "Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa..."; Quảng Bình trở về với công cuộc xây dựng và kiến thiết với bao tiềm năng của một mảnh đất đa dạng về tài nguyên, dồi dào về nội lực. Nhiều năm đã qua, sự đổi thay của Quảng Bình nói riêng, cùng với sự đổi thay của đất nước nói chung, được thể hiện khá rõ nét ở nhiều lĩnh vực mà trong giới hạn của một bài báo không thể nào nói hết được. Nhưng câu chuyện sau đây về sự đổi thay trong cuộc sống của một tộc người chỉ có chưa đầy 500 người, lâu nay vẫn sống một cuộc sống âm thầm, lặng lẽ giữa ngút ngàn Trường Sơn, thì vẫn có thể coi như một hình ảnh thu nhỏ về sự đổi thay của một vùng đất...
Từ câu chuyện của người già họ Cao
50 năm là một quãng thời gian đáng kể đối với một đời người, nhưng với một dân tộc thì mới chỉ như một giấc mơ ngắn ngủi. Chừng ấy năm trôi qua, những đứa trẻ con người Rục được sinh ra, lớn lên, xây dựng gia đình rồi sinh con đẻ cái trong sự quan tâm của chính quyền địa phương cũng như của cả cộng đồng, rồi đến lượt con cái chúng lại lớn lên, lại xây dựng gia đình... giờ đã là thế hệ thứ 3. Những câu chuyện về một thời ở hang tưởng đã đi vào dĩ vãng, vậy mà những người già ở đây thì vẫn chưa hề quên câu chuyện từ những ngày xa xôi ấy...
Ông Cao Ngọc Ên, năm nay 63 tuổi, người mãi năm 1962 mới chịu rời tệ cốc để hạ sơn, kể lại rằng ngày còn ở trong hang đá ấy, người Rục chỉ biết hằng ngày đi đào mài, đào nhút về ăn thôi. (Từ Nhút nói bằng tiếng Nguồn, lại phát âm theo giọng Quảng Bình nên chúng tôi chỉ có thể ghi lại mà chưa xác minh được xem đó là loại củ hay cây gì). Ban đầu thì đào ở gần hang, sau ở gần hết củ, phải đi xa hơn. Dần dần ở xa cũng hết, lại phải đi xa hơn nữa. Càng đi xa, thời gian đi lại mất nhiều hơn thời gian đào, nên chẳng được mấy, đói ăn là chuyện thường xuyên. Ngày mưa đói, mùa mưa lại càng đói. Con cá, con lươn, con ốc dưới suối cũng như cái củ trên rừng, ngày một ít đi, thú rừng thì hiếm khi bắt được vì trong tay chẳng có thứ gì để bắt, nên họa hoằn mới được ăn bữa thịt... Cứ như vậy ngày qua đi, tháng qua đi, lầm lụi với miếng ăn, chẳng ai còn nhớ tuổi mình nữa. Con trai con gái đến khi nào nhìn nhau mà biết thích thì đến nói với bố mẹ rồi về ở với nhau. Hang còn rộng thì lựa lấy một góc, chật rồi thì đi tìm cái hang khác... Cái họ Cao chẳng biết có từ khi nào, nhưng ai cũng đều đặt tên cho con mình theo họ Cao để biết được là người cùng trong họ (có thể hiểu là người cùng dân tộc - NV). Nhưng đẻ con là việc của mình, còn cho con mình sống thì lại là việc của trời. Trời cho ít, nên họ Cao bao năm rồi mà cũng chẳng được mấy người. Thế rồi... Thế rồi...
Nếu lấy mốc thời gian kể từ ngày các chiến sĩ biên phòng tỉnh Quảng Bình phát hiện ra họ trong hang đá trong một lần đi công tác địa bàn vào năm 1959 (mà thực ra thì cho đến giờ phút này cũng chưa có cách xác định nào khác); thì câu chuyện được kể trong vòng chưa đầy nửa giờ đồng hồ của ông Cao Ngọc Ên có thể coi là một khái quát của cả một quãng thời gian "n" năm trở về trước của người Rục. Phần còn lại là từ đó cho tới hôm nay...
Đêm giữa đại ngàn
Thói quen, dù là thói quen xấu, dù là thói quen nhỏ nhất, cũng là điều vô cùng khó sửa, huống chi là chuyện thay đổi cả một tập quán sinh hoạt. Ngày mới được bộ đội biên phòng và cán bộ tỉnh, huyện đưa về, làm nhà cho ở, cấp gạo, cấp thực phẩm cho ăn, rồi cấp tiền, dậy cách mua sắm, trao đổi các vật dụng hằng ngày, rồi dạy cách phát nương, gieo lúa, trỉa bắp, đặt hom sắn.... là cả một quá trình dài; vậy mà mãi vẫn không sao quen được. Cái nhà ở mà cứ coi như cái hang của trời vậy, chẳng cần quét dọn, sửa sang. Mưa dột, mái tốc cũng mặc, ướt góc này lại chuyển qua góc khác... Đến ngày cái nhà không bằng cái hang nữa (ngày đó do điều kiện và thời gian quá gấp, nhà định cư cho người Rục mới chỉ được làm bằng gỗ và lợp bằng các vật liệu đơn giản, cũng giống như hầu hết nhà ở nông thôn miền xuôi thời bấy giờ), lại bỏ nhà lên hang sống. Cái cây trồng mãi chẳng thấy no cái bụng, chẳng bằng lên rừng, đào được cái củ lên khỏi đất là có ăn ngay, cũng thành lý do để bỏ lên hang. Thậm chí còn có chuyện mấy anh thanh niên đem tiền Chính phủ trợ cấp, vượt mấy chục cây số đường rừng mò ra tận thị trấn (Quy Đạt) chơi, thấy người ta uống thứ nước gì vàng vàng, chẳng giống rượu Đoác của mình làm ở bản chút nào cả, mà cũng đỏ mặt, cũng vui vẻ, bèn rủ nhau uống thử. Thế rồi say, thế rồi khoái cái món nước vàng vàng, cay cay (họ gọi bia như thế) ấy mới chết chứ. Ngủ luôn tại chợ, tỉnh dậy lại vàng vàng cay cay tiếp...
|
Một gia đình người Rục. Ảnh: LN
|
* * *
Trong việc giúp đỡ người dân ở miền núi xoá đói giảm nghèo và đi vào ổn định đời sống, khi mọi sự mới được bắt đầu thì quan điểm cho người ta chiếc cần câu chứ đừng cho con cá không thể áp dụng một cách máy móc. Trường hợp đối với đồng bào Rục, ngoài những hỗ trợ trực tiếp ban đầu như nhà cửa, gạo, tiền, chăn màn, quần áo... thì con đường cũng là một yếu tố cực kỳ quan trọng. Nó vừa đóng vai trò như một con cá (trước mắt), nhưng về lâu dài, đó lại là một con cá vàng với bao điều ước... Cũng từ năm 1994, dự án cấp bò giống cho đồng bào được thực hiện, mỗi hộ được nhận 1 con bò. Đến nay đàn bò ở các hộ đã thành 2, 3 con và là một trong những nguồn dự trữ khá ổn định với mỗi gia đình. Không những thế, nó còn góp phần điều chỉnh lại cơ cấu kinh tế của cả cộng đồng nữa...
Với mô hình kinh tế nương rẫy kết hợp vườn, rừng, như tuyệt đại đa số tại các vùng đồng bào dân tộc ít người hiện nay, mà người Rục có thể coi là một ví dụ điển hình, thì việc làm rẫy cùng lắm cũng chỉ đủ ăn. Người Rục không có nguồn thu nhập nào khác ngoài đi rừng, chính vì vậy mà khi có những việc vừa vừa như cưới xin, ma chay... thì đã có có con gà, con lợn. Việc lớn chỉ còn biết trông vào con bò. Giàu cũng là nhờ con bò, sang cũng từ việc nuôi bò. Có đường, con bò đổi thành xe Honda; có điện, con bò đổi thành ti vi, radio... Việc nào đi việc ấy...
Bản Ón đã có điện từ cuối năm 2003, hiện nhiều nhà đã sắm ti vi và xe máy. Một cái chợ nho nhỏ cũng đã mọc lên, tối đến đông vui, nhộn nhịp như... không phải trên núi vậy. Đêm trên bản Rục, tôi cứ nghêu ngao mãi rồi cũng thuộc bài thơ của ông nhà thơ người Dao Bàn Tài Đoàn từ khi nào không biết.
Và tất cả những gì tôi đã được chứng kiến, đã cảm được trên mảnh đất này đã làm nên một đêm thật đáng nhớ giữa đại ngàn...
Ký của Lương Ngọc An