Gần mười năm trước, tôi bất ngờ nhận được lá thư của một cô gái Quảng Trị, lá thư mở đầu khá đặc biệt: "Vô tình đọc "Ghi nhanh ở Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn" (tên một bài thơ của tôi - LNA), tôi đã khá có cảm tình với anh..." Rồi như chẳng cần biết điều đó đã gây ấn tượng thế nào với người nhận, bức thư kết thúc bằng một câu hỏi vừa có phần cả quyết, lại vừa như hờn dỗi: "... Anh có dám làm quen với một cô gái ở mảnh đất gió cát này không?..." Về sau, T, tên cô bạn nọ, giải thích lý do khiến mình viết lá thư trên: "Đó là vì bài thơ đã viết về quê em...". Chúng tôi đã quen nhau như vậy, hay nói đúng hơn, lịch sử oanh liệt, hào hùng của dân tộc cùng với những cảm nhận đầy tri kỷ và lòng biết ơn với đất đai, với đồng đội và với con người nơi đây đã giúp chúng tôi làm quen với nhau...
|
|
Ấy là chuyện mươi năm về trước. Nhưng ngày ấy hình như T. cũng không nhận thấy một điều, rằng với riêng mình, đã từ rất lâu rồi, không hiểu vì đâu mà lòng tôi vẫn cảm thấy có điều gì vừa như tò mò, lại vừa như mắc nợ với mảnh đất mà em tự gọi là gió cát này. Mãi sau rồi mới hiểu, thì ra những cảm giác ấy không phải bắt nguồn từ những gì chưa biết, mà thực sự bắt nguồn từ những gì đã biết, và biết rất mơ hồ, về một chiến trường với những tên gọi, những chiến công đã được ghi đậm vào sử sách: Gio Linh, Cam Lộ, Đường 9, Khe Sanh, Cồn Tiên, Dốc Miếu, Cửa Việt, Cửa Tùng, Thành cổ... mà mình đã từng được đọc, được nghe từ thuở ấu thơ; để rồi bỗng một ngày kia, trước ngút ngàn của Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, câu thơ vọng đến bất chợt như có ai đó thầm đọc bên tai: Nhấp nhô đến cạn cánh cò / Nghiêm trang như dưới Quân kỳ điểm danh/ Hôm xưa với lá áo xanh/ Hôm nay với nắng áo thành tinh khôi...; và để rồi lòng tự hẹn lòng, rằng rồi sẽ một ngày mình trở lại nơi đây, sẽ một lần sống thật kỹ với mảnh đất này, để chiu chắt lại thật sâu, thật đậm một chút gì đó về Quảng Trị, cho bản thân, cho bè bạn, những người còn sống và cả những người đã khuất; mà bức thư của T. lại vừa như một lời nhắc gọi...
Và tôi đã trở lại Quảng Trị trong một tâm thế như vậy. Tâm thế của một người vắng xa lâu ngày trở về, để vừa xa lạ lại vừa gần gụi, để vừa thân thuộc lại vừa không khỏi ngỡ ngàng...
Thế hệ sinh ra sau năm 1972 hôm nay về Quảng Trị chỉ thấy hiển hiện trên mặt đất, giữa lòng thị xã, một chứng tích hiên ngang như một tượng đài của sự quật cường được tạc nên từ bom đạn; đó là một góc ngôi trường Bồ Đề trên đường Trần Hưng Đạo, ngôi trường đã từng một thời là niềm kiêu hãnh của người dân Quảng Trị về truyền thống hiếu học của quê hương mình, cũng là công trình kiến trúc duy nhất còn lại mang dấu tích của một Quảng Trị hào hoa xưa, sau khi thị xã đã bị san phẳng trong 81 ngày đêm lửa đạn mùa hè năm 1972. Những thương tích in hằn trên mình ngôi trường còn lại tới hôm nay là một minh chứng thuyết phục về những gì mà chiến tranh từng đem đến nơi đây, dù chỉ là một phần rất nhỏ. Giữ lại nguyên vẹn ngôi trường này để làm di tích chiến tranh, như vết sẹo trên một cơ thể khỏe mạnh, Quảng Trị như muốn nói lại với muôn sau những ký ức không thể nhạt phai về một mùa hè đỏ lửa, và nhắc với mỗi người đang ung dung dạo bước trên hè phố kia, rằng mảnh đất mà họ đang vô tư đặt chân lên ấy, mỗi gốc cây, ngọn cỏ đều từng thấm đẫm máu đào...
Vào cuối năm 2000, trong quá trình thi công nâng cấp một số hạng mục công trình tại khu di tích Thành cổ, có việc xây dựng lại hệ thống cống thoát nước tại đây. Khi mọi việc đã hoàn tất, chủ đầu tư phát hiện ra đoạn cống ở khu vực cổng phía Tây của thành cao hơn thiết kế một chút. Nếu xuề xòa thì vẫn có thể cho qua vì độ chênh lệch không ảnh hưởng nhiều tới chất lượng thoát nước của công trình. Song không hiểu vì sao bên thi công vẫn quyết định đào lên làm lại. Và đến khi khoét sâu thêm chỉ vài tấc đất, những người thợ đã phát hiện ra cả một căn hầm bị vùi lấp với 5 bộ hài cốt còn khá nguyên vẹn. Họ đã nằm đó hơn ba chục năm trời...
Trong số hài cốt vừa tìm được ấy, một bộ sau đó không lâu đã xác định được danh tính của liệt sĩ, căn cứ vào những di vật đi cùng. Anh là Lê Binh Chủng, thượng úy, phó chỉ huy chính trị của một tiểu đoàn chiến đấu tại Thành cổ Quảng Trị năm 1972, quê ở xã Quỳnh Mỹ, huyện Quỳnh Lưu - Nghệ An. Những di vật ấy sau đó được trưng bày trang trọng trong một chiếc tủ kính đặt ở tầng 2 Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị, bao gồm súng, đôi dép cao su, thắt lưng, cuốn nhật ký, lý lịch đảng viên, bản tuyên bố của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, cùng một số tài liệu tuyên truyền do Cục Chính trị B5 ban hành; và đặc biệt hơn cả là một bức thư gửi từ hậu phương đề ngày 15/5/1972... Tất cả những tài liệu này được gói kỹ trong bao nilon nên mặc dù đã nằm trong lòng đất gần 30 năm, song nét mực vẫn chưa nhòe...
Về đây, được nghe câu chuyện về Thành cổ, lòng tôi cứ day dứt mãi. Có người đã nói với tôi, đất đai ở đây, con người ở đây lạ lắm. Lại nhớ đến câu chuyện mà một người bạn Quảng Trị, nhà báo Lê Đức Dục, tác giả của Thành cổ Quảng Trị, khúc tưởng niệm của lau trắng và phượng hồng, một trong những trang viết thậm hay và cảm động về khu di tích đầy máu xương và lửa đạn này, đã từng kể, rằng vào cái ngày khởi công xây dựng khu tượng đài trung tâm Thành cổ ấy, chiếc xe Bel chở đất đầu tiên đã không thể nào đổ được, buộc người ta phải dùng tay để xẻ đất xuống. Đoạn anh kết luận: Những người đã nằm xuống, nhất là những người trẻ tuổi, thường linh lắm. Họ muốn nhắc nhở đấy...
|
Quảng Trị hôm nay. |
Tôi đã sống những ngày thật ý nghĩa với mảnh đất ân tình và duyên nợ này như vậy. Đúng là người dân Quảng Trị hiền lành, chân thật và cũng rất ân tình T. ạ. Nhưng còn biết bao thiêng liêng và trĩu nặng yêu thương từ đất đai quê mình, sao em chưa nói? Tôi đã dừng rất lâu bên bờ Bến Hải, con sông đã từng như lưỡi dao xa xót trên bản đồ Tổ quốc một thời, cây cầu Hiền Lương hôm nay vượt qua chỉ chưa đầy 2 phút đồng hồ, vậy mà dân tộc mình phải mất tới hơn 20 năm mới có ngày liền nhịp. Chính ở nơi đây tôi đã được nghe câu chuyện thoạt như đơn giản mà càng nghe lại càng xa xót đến quặn lòng, về những đám tang có đến... 4 đoàn người đưa tiễn; một đoàn ở bên này sông, một đoàn bên kia sông, cùng đi dọc bờ sông để tiễn đưa người quá cố, và... bóng của họ cùng in xuống lòng sông... Nhớ lại mỗi lần mình chia tay nhau, trông mắt em buồn da diết, lòng đã thấy ngác ngơ như vừa mất một điều gì, giờ nghe câu chuyện nọ mới thấy mình sao quá ư vị kỷ. Mảnh đất nơi mình gặp nhau này thực đã có những cuộc tiễn đưa không thể hình dung. Tôi cũng đã từng bị ám ảnh rất nhiều về những giọt nước mắt ứa ra nơi khoé mắt của một nhà thơ nguyên là lính xe tăng, khi anh kể về những nắm cơm đã cháy thành than, tìm thấy trong một chiếc xe tăng sau trận chiến đấu ở Đăk Tô, Tân Cảnh năm nào, nên khi đến Khe Sanh, dừng thật lâu bên chiếc xe tăng từng tung hoành để làm nên chiến thắng Làng Vây lịch sử, lại một lần cảm thấy như đang mắc nợ; để có được đất đai này, cuộc sống này, chúng mình đã phải chịu ơn biết bao người, phải không em? Rồi những lúc dầm mưa trên những con đường Huyền Thoại, rồi khi khỏa chân dòng suối La La ở Đakrông, nơi năm xưa từ đó, những đoàn quân âm thầm xuất hiện, cũng như huyền thoại, để lập nên bao kỳ tích, rồi những ngày sống giữa những con người bất khuất, kiên cường mà cả một dân tộc cùng thành kính lấy tên Bác Hồ làm họ của dân tộc mình để nói lên ý chí và quyết tâm đi theo Đảng, theo cách mạng; rồi Cồn Tiên, Dốc Miếu, rồi Đồng Trị, Tà Cơn... mỗi cái tên đều mang một chứng tích, mỗi nơi trên mảnh đất quê em đều đã từng là một chiến trường, đều đã từng chiến đấu, đã từng hy sinh và đã từng chiến thắng; thực sự lòng mình như vừa được đánh thức dậy một tình yêu, vừa thiết tha lại vừa gượng nhẹ. Từ những câu chuyện mà đất đai, sông núi vẫn âm thầm kể, dường như tất cả đều thật mỏng manh. Vâng, tất cả những gì đáng quý đều thực sự rất mỏng manh.
Sao em chưa kể?...
Lần đầu tiên tôi đến quê em, chúng mình chưa biết nhau; nhưng cũng như em, tôi yêu mảnh đất này, như chính mình đã sinh ra ở đây vậy. Thật lạ lùng, nhưng chẳng ngạc nhiên chút nào cả, phải không em. Có ở nơi nào trên đất nước này mà đất với người lại nặng nợ, nặng tình với nhau như ở đây...!
Và cả với em cũng thế...
Đêm! Một đêm nghỉ lại giữa lòng thị xã, bên chân Thành cổ, tại Tố Linh Đường, tên hiệu thuốc Bắc của Võ Thìn, một người bạn vốn từng là giáo viên, từng phiêu bạt nhiều nơi, nay về quê sống bằng nghề bốc thuốc. Thường thì ở nơi làm những việc "cứu nhân độ thế " như thế này, lẽ ra "dương khí " phải "vượng" lắm; vậy mà không hiểu sao cứ trằn trọc mãi. Có gì đó như là tiếng vọng lên từ đất, từ xa xăm những ngày qua... Phải rồi, mình đang nằm áp lưng vào đất, mà ở mảnh đất Quảng Trị này không phải chỉ có những tuổi đôi mươi thành sóng nước như lời người lính già kia vừa nhắc nhủ, mà còn biết bao nhiêu nữa những tuổi đôi mươi đã thành đất đai, bờ bãi, thành hoa thắm lá xanh, thành tiếng chim ca trong những buổi bình minh yên bình mà mỗi ngày ta đón nhận, và thành cả những câu chuyện âm thầm, bi tráng mà đất đai đã kể và sẽ còn mãi kể, để rồi từ ấy, mỗi bước chân ta trên đường cứ rụt rè gượng nhẹ, để rồi lòng ta với mảnh đất này từ ấy cứ nâng niu...
Lương Ngọc An