"Tôi may mắn vô cùng vì có được một người vợ hiền thảo, đảm đang, vén khéo như thế. Công to việc lớn trong nhà đều một bờ vai gầy của bà ấy oằn lưng gánh vác. Có được mái ấm hôm nay, tôi biết, công lao của vợ lớn lắm. Lớn đến nỗi chẳng biết phải dùng bao nhiêu từ ngữ để diễn đạt cho trọn bây giờ!" - dòng tâm sự của ông Chu Thế Dũng, "cư dân" đã 32 năm của Trung tâm điều dưỡng thương binh Thuận Thành, Bắc Ninh như nghẹn lại.
Người thương binh với tỷ lệ thương tật 91%
Đã là thương bệnh binh ở đây, nghĩa là đều phải chịu tỉ lệ thương tật rất cao. Ông Dũng cũng không là ngoại lệ. Chân trái bị cưa cụt tới tận giữa đùi. Những mảnh đạn găm trúng cột sống khiến ông bị liệt một thời gian dài từ thắt lưng trở xuống. Đó là chưa kể hàng chục vết thương lớn nhỏ rải khắp thân thể. Ông bảo, tỉnh dậy sau hai chục ngày mê man ở Bệnh viện dã chiến Đà Nẵng, ông mới biết, trên người mình chỉ mỗi phần đầu và ngực là còn lành lặn. Khoang bụng có một vết mổ dài, ngón tay cái bị chẻ làm đôi. Vai, cánh tay, lưng, chỗ nào cũng bị dính vài ba mảnh đạn.
|
Vợ chồng người thương binh Chu Thế Dũng trong tổ ấm ở Trung tâm điều dưỡng Thuận Thành. |
Bị cả loạt đạn găm thẳng vào lưng ngay trên chiến trường Quảng Trị - nơi từng tấc đất bị bom đạn cày xới đến nát nhừ, lại là người rút cuối cùng, ông gục xuống mê man bất tỉnh. Nhận thêm vào mình cả đống vết thương, khi trên trời dưới đất bom đạn rơi vãi như mưa, ông bị địch bắt, được chữa trị tới bốn tháng trời để rồi khi đã lành hết mọi thương tích, bị địch di chuyển qua không biết bao nhiêu nhà tù - cả đất liền lẫn nơi hải đảo như một tù binh chiến tranh.
Ngày còn ở trong bệnh viện dã chiến, bác sĩ điều trị người Mỹ đã từng bắt ông tập đi rất sớm, ngay khi vết thương vừa hàn kín miệng. Chỉ tới khi thấy ông dăm bảy lần sụp xuống, không thể đứng nổi trên chiếc chân phải còn lại đã bị liệt, ông ta mới chịu từ bỏ ý định đó.
Vì thế, quyết tâm phải tập đi bằng được nung nấu và không bao giờ lùi bước trong ông. Sau chấn song nhà tù, mỗi khi vắng bóng lính gác, ông lại gượng bám cửa sổ tập đứng lên. Vượt lên nỗi đau đớn nhiều lúc tưởng chừng không chịu nổi, ông mới có thể đứng được một lúc trên chiếc chân đã teo tóp, khẳng khiu của mình.
Sau Hiệp định Paris, ông Dũng nằm trong danh sách trao trả tù binh ngay trong đợt đầu tiên. Rồi về Đoàn an dưỡng 255, chị em hộ lý chằng buộc dây xung quanh rồi kiên trì đỡ ông gượng đau đi lại, mãi rồi chân cũng cứng dần. Nửa năm, rồi một năm, ông đã có thể tự di chuyển trên đôi nạng mà không phải phụ thuộc vào chiếc xe lăn như bao đồng đội cùng cảnh ngộ tại trung tâm. Ông nói, đó là thắng lợi lớn nhất trong đời mình, số phận bắt ông "tàn", nhưng không thể trói ông vào cảnh phế nhân.
Và người phụ nữ có khả năng giữ lửa cho mái ấm
Ngày chính thức "nhập tịch" Trung tâm điều dưỡng Thuận Thành năm 1977, ông vừa tròn 30 tuổi. Hoàn cảnh gia đình của ông rất đặc biệt. Bố và hai bác ruột đều là liệt sĩ. Mẹ già yếu. Em gái bị tâm thần từ nhỏ. Đã tốt nghiệp Học viện Thủy lợi, lại có tiêu chuẩn con trai duy nhất trong một gia đình liệt sĩ, lẽ ra ông được miễn nghĩa vụ quân sự. Nhưng rồi, ông Dũng vẫn chọn con đường cầm súng.
Ngày về, ông đối diện với tấm bằng Tổ quốc ghi công mang tên mình, với tấm giấy báo tử gửi về gia đình từ năm 1969 - khi đồng đội đinh ninh ông đã hi sinh trong trận chiến ác liệt nơi đất lửa Quảng Trị. Gặp lại người mẹ già đã cạn hết nước mắt khóc chồng rồi lại khóc cả con, khi bản thân đã là một thương binh nặng, mất tới 91% sức khỏe, ông như muốn gào lên vì nỗi đau tinh thần đã trở nên quá sức chịu đựng.
Về Trung tâm hôm trước, hôm sau ông đã kịp chống nạng đi chơi lang thang. Số phận run rủi thế nào, ông gặp lại Hoàng Thị Luyến - cô y tá xinh đẹp, dịu dàng đã từng chăm sóc ông ở Quảng Trị, khi ông bị thương lần đầu. Một tháng nằm trong binh trạm tiền phương, bàn tay nhẹ nhàng của cô đã thay băng, tiên thuốc, gương mặt và nụ cười đằm thắm của cô gái thành Vinh đã in đậm trong trái tim anh bộ đội gốc Hà Nam.
Chiến tranh đã đẩy họ ra xa nhau, khi chàng tiếp tục vào trận, bị thương rồi bôn ba khắp nẻo. Còn cô y tá tiền phương cũng bị thương với tỷ lệ thương tật 31%, rồi chuyển ngành và trở thành điều dưỡng viên tại Trung tâm này. Gặp lại nhau mừng mừng tủi tủi, họ nên duyên vợ chồng, nhờ bàn tay sắp đặt của định mệnh.
Tình yêu giữa hai người đồng đội cũ, hai thương binh một nặng - một nhẹ không thể đủ đầy những góc khuất lãng mạn như những cặp đôi bình thường. Ông Dũng bảo, cùng cảnh thì lấy nhau, nương tựa vào nhau mà sống. Nhưng chiến tranh vô cùng nghiệt ngã. Với phần đa những cặp vợ chồng ở Trung tâm, bóng ma của nó còn ám ảnh, còn đeo bám theo họ cho đến hết cuộc đời. Niềm hi vọng sẽ đón những đứa con chung vừa nhen nhóm lên đành tắt ngúm. Đã có lúc ông nghĩ tiêu cực, "tưởng lấy nhau có được đứa con, đến nước này thì thôi, bà về Vinh, tôi về Duy Tiên, chia tay nhau cho đỡ khổ".
Thế nhưng, người phụ nữ kiên cường ấy không hề buông xuôi, cho dù gắn kết đời mình với một thương binh nặng, bà phải chấp nhận ghé lưng "gánh cả giang san nhà chồng". Bởi người đàn ông ấy - dù rất mong muốn - cũng chẳng thể làm trụ cột gia đình, làm thân cây vững chãi tỏa bóng mát xuống cuộc đời vợ mình. Đó là còn chưa kể hàng chục những vết thương, cứ trái gió trở trời là đau đớn như bị hàng ngàn mũi dùi khoan cắt. Cứ mỗi lần ông nằm liệt, lại một tay người vợ chăm sóc từng li, từng tí.
Cùng niềm hạnh phúc từ những đứa con
Nỗi khát khao làm mẹ cháy bỏng trong bà rồi cũn`g thành sự thật. Một ngày, bà bồng trên tay bé gái mới bốn tháng tuổi bị bỏ rơi ngoài cổng Trung tâm. Mái nhà đã có hơi ấm, nhờ những tiếng bi bô trẻ thơ. Cả hai ông bà làm lụng quần quật để đủ tiền nuôi con, bởi chỉ trông vào khoản tiền trợ cấp thương tật của chồng, tiền lương y tá điều dưỡng của vợ thì không đủ.
|
|
Bà sấp ngửa chạy chợ lần hồi, tranh thủ kiếm thêm ngoài giờ làm y tá. Ông quay mì sợi phục vụ nhu cầu trong Trung tâm rồi cho cả bên ngoài. "Người ta cứ lấy năm hào thì tôi chỉ nhận ba. Vậy là khách tới ngày càng đông. Tôi phải làm từ sáng sớm tới tận 9 giờ tối mới được nghỉ", ông Dũng kể. Không chỉ có thế, ông còn cuốn thuốc lá, nhận đồ điện - điện tử về sửa chữa. Nhìn cô con gái Chu Thị Hạnh lớn lên từng ngày, mọi cực nhọc, vất vả, mọi nỗ lực kiếm sống vượt lên bệnh tật, đau đớn của cả hai vợ chồng như đã được xóa nhòa.
Nuôi con gái vừa tròn một năm, đôi vợ chồng kia lại ôm thêm một cậu con trai đỏ hỏn mới nửa tháng tuổi đến tận nhà ông bà gửi gắm. Họ bảo, "ông bà thương thì thương cho trót, đã nuôi con chị thì xin giúp cả thằng em". Vậy là nhân khẩu trong nhà tăng thêm một, con trai Chu Thế Phước.
Lại một vòng quay gò lưng làm thêm kiếm tiền, chỉ khác cái gánh giờ đã nặng gấp đôi.
Khó có thể tưởng tượng nỗi vất vả của bà Luyến, khi quỹ thời gian eo hẹp một ngày được bà chia nhỏ cho không biết bao nhiêu nỗi lo. Lo làm trọn công việc y tá - lo kiếm tiền - lo chăm sóc con nhỏ - lo hầu chồng quanh năm ốm đau, lắm lúc còn liệt giường liệt chiếu cả tháng trời.
Ông bảo, "lắm khi vất vả quá, bà ấy có to tiếng thì tôi cũng vẫn ngồi im. Giận quá thì bỏ đi chứ không bao giờ đôi co lại một tiếng. Sức chịu đựng của người phụ nữ Việt Nam dường như là vô hạn, nhưng tôi hiểu, vợ mình cũng chỉ là một con người bình thường. Tôi nhịn bà hết mực cũng là vì cái lẽ đó".
Giờ thì ông bà đã có thể tự hào rằng hai đứa con đều đã thành đạt. Cả hai đều tốt nghiệp khoa tiếng Trung - Trường ĐH Ngoại ngữ. Hạnh làm cho tập đoàn Lifan - TQ, còn Phước chọn đầu quân cho một công ty du lịch. Cả hai đã lập gia đình, đã tặng ông bà những đứa cháu nội - ngoại vô cùng ngoan ngoãn.
Tôi không có cơ hội trò chuyện với người phụ nữ đáng nể phục đó, bởi bà chỉ kịp lùa vội lưng cơm rồi lao đi thăm bệnh cho một thương binh nào đó trong Trung tâm. Cơn mưa đang ùng oàng sấm chớp bên ngoài. Thời tiết đỏng đảnh thế này, nhưng vết thương trong cơ thể những thương bệnh binh lại tìm dịp trỗi dậy hành hạ. Bởi thế, bà cũng không có cơ hội nghe được những lời tri ân mà người chồng dành tặng cho mình. Vả lại nếu có nghe, tôi đoán bà cũng sẽ cười xòa. Bởi người phụ nữ ấy làm tất cả xuất phát từ tấm lòng nhân ái, sẻ chia một cách vô tư. Bà đâu có làm, dù chỉ để mưu cầu một lời đền đáp.
Bài và ảnh: Trương Tuấn Nghĩa