Vừa qua, chúng tôi nhận được đơn kêu cứu khẩn cấp của bà Vũ Thị Phương, SN 1957, thường trú tại Đông Ba, Thượng Cát, Từ Liêm, Hà Nội về việc phần đất của ông bà để lại bị cháu ruột mượn ở và chiếm đoạt không trả. Thế nhưng, khi bà Phương kiện ra tòa, việc xét xử không thấu tình đạt lý khiến gia đình bà bị mất nhà, mất đất, kết quả 2 phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm gây bức xúc với người dân địa phương và dòng tộc.
Từ tình thương đặt nhầm chỗ!
Theo điều tra của chúng tôi, mẹ bà Phương là bà Nguyễn Thị Vui được bố mẹ chia một mảnh đất 240m2 và một ngôi nhà gỗ 5 gian từ năm 1969. Đáng lẽ khi bà Vui mất, quyền thừa kế thuộc về những đứa con của bà Vui theo đúng quy định của pháp luật. Thế nhưng, diễn biến vụ việc khá phức tạp. Lật lại lịch sử gia đình bà Vui, bố mẹ bà là cụ ông Nguyễn Văn Sáu và cụ bà Bùi Thị Mừng sinh được 3 người con, 1 trai, 2 gái. Bà Nguyễn Thị Vui là con gái lớn, em trai duy nhất là Nguyễn Văn Hậu đã hy sinh trong kháng chiến nên chỉ còn lại bà Vui và cô em gái thứ hai là bà Nguyễn Thị Phú. Năm 1969, ông Sáu có lập văn tự quyền sở hữu gia sản và được dòng tộc, chính quyền địa phương đóng dấu triện xác nhận. Theo đó, tài sản được phân chia như sau: Vì con trai đã mất nên phần tài sản được chia đôi cho 2 cô con gái, trong đó, bà Nguyễn Thị Vui được nhận mảnh đất rộng 240m2, 5 gian nhà gỗ, một nhà bếp 3 gian và phần nhà gỗ dùng làm nhà thờ ông bà, thờ liệt sĩ. Còn bà Nguyễn Thị Phú được chia mảnh vườn phía trước rộng 288m2. Việc phân chia tài sản được cả họ hàng, con cháu đồng tình và ký xác nhận. Năm 1985, ông Sáu mất và không để lại di chúc vì đã có văn tự có xác nhận của chính quyền địa phương được lập từ năm 1969 như đã nói ở trên. Trong khi đó, năm 1978, bà Nguyễn Thị Phú đã bán thửa đất 288m2 đã được chia.
Về phía bà Nguyễn Thị Vui sinh được 6 người con, trong đó bà Vũ Thị Phương (người được các anh chị em ủy quyền gửi đơn kêu cứu) là chị cả vẫn thường xuyên ở bên chăm sóc cho ông ngoại là cụ ông Nguyễn Văn Sáu. Năm 1983, con trai tên Thanh của bà Phú lấy vợ, không có nhà ở, bà Phú sang nhà bà Vui xin cho con trai ở nhờ. Thương cho hoàn cảnh của cháu, bà Vui đồng ý. Đến năm 1985, sau khi ông ngoại qua đời, anh Thanh chuyển về Mai Dịch và trả lại nhà, đất cho bà Vui. Sự việc chỉ có thế thì không có tranh chấp xảy ra. Nhưng cũng trong năm đó, cậu con trai thứ của bà Phú là Ngô Văn Hoa, SN 1963 vừa đi bộ đội về làng là cưới vợ, lại không có nhà ở nên bà Phú lại xin chị gái cho ở nhờ. Lúc cho mượn đất và nhà, bà Vui bắt anh Hoa hứa là trả lại khi nào bà cần và anh Hoa đồng ý.
Nhưng đến năm 1992, anh Hoa bỗng dưng phá ngôi nhà 5 gian, hạ bàn thờ để xây lại thành nhà cấp 4 thì các con bà Vui đã ủy quyền cho bà Vũ Thị Phương làm đơn lên chính quyền địa phương cầu cứu, lúc đó anh Hoa mới dừng việc xây dựng lại. Kể từ đó, anh Hoa nói khó rằng chưa có chỗ ở và khất lần không trả. Đến năm 2008, sau nhiều năm tranh chấp, anh Hoa lại phá toàn bộ những gian còn lại của căn nhà gỗ 5 gian để xây nhà 2 tầng thì bà Phương mới đâm đơn kiện khắp nơi, chính quyền địa phương đã hòa giải nhiều lần song không thành. Lý do anh Hoa cho rằng mình là chủ sở hữu hợp pháp mảnh đất này do có trong tay sổ đỏ. Bà Phương cho PV biết: Điều khó hiểu ở chỗ mảnh đất đó từ trước đến nay cả dòng tộc đều biết rằng chưa bao giờ được cấp sổ đỏ, việc anh Hoa có sổ đỏ khiến mọi người đều bất ngờ! Khi bà Phương hỏi chính quyền địa phương thì mới biết mảnh đất của mẹ bà đã có sổ đỏ đứng tên anh Hoa từ năm 2003.
Đến hai phiên tòa một chiều
Trở lại với việc tranh chấp mảnh đất nói trên, sau khi bà Phương gửi đơn kiện anh Hoa chiếm đoạt nhà, đất lên chính quyền địa phương. Và đến ngày 13 và 19/8/2010, Toà án nhân dân huyện Từ Liêm mở phiên tòa dân sự sơ thẩm “đòi nhà đất cho ở nhờ” với bản án số 08/2010/DS-ST nhưng không giải quyết việc trả lại nhà theo đúng nội dung văn tự mà ông bà để lại. Thấy chưa thỏa đáng, bà Phương lại kháng án thì đến ngày 21/12/2010, Tòa án nhân dân TP. Hà Nội mở phiên sơ thẩm với bản án số 244/2010/DSPT. Thế nhưng cũng như bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm cũng chỉ dựa vào căn cứ: mảnh đất đó anh Hoa đã đứng tên trong sổ đỏ nên anh có quyền sử dụng cùng với lời khai của anh Hoa khai trước toà rằng: bà Vui đã bán phần đất đó cho anh. Thế nhưng mọi lời khai đều không có văn bản giấy tờ chứng minh, không nhân chứng sát thực nhưng không hiểu sao tòa vẫn lấy đó làm căn cứ để phán quyết?
![]() Chủ nhà đang đẩy nhanh tiến độ thi công trên phần đất mới chiếm. |
Cũng như việc bà Phương viết trong đơn, gia đình bà, trong đó có mẹ bà không am hiểu pháp luật nên suốt thời gian dài không chú ý đến việc hoàn tất thủ tục quyền sử dụng mảnh đất, căn nhà mà mẹ bà được chia. Qua tìm hiểu, lý do mà toà án lại thừa nhận anh Hoa thắng kiện và có quyền sử dụng mảnh đất là căn cứ vào sổ đỏ mà anh Hoa mới được cấp nói trên. Trong khi đó, bản văn tự về chia tài sản đã được lập khi cụ ông Nguyễn Văn Sáu còn sống (được coi như giấy tờ hợp pháp về quyền sở hữu tài sản của các con cháu trong gia đình cụ ông Nguyễn Văn Sáu) lại không được các cấp tòa xem xét. Hơn nữa, trong 2 bản án, không những bản tòa “coi nhẹ” văn tự mà sự thiếu thuyết phục còn thể hiện ở việc tòa chỉ dựa vào những chứng cứ theo lời khai “một chiều” từ phía bị đơn, tức là anh Hoa. Một điểm nữa, mặc dù chính quyền xã Thượng Cát đã xác nhận với tòa án rằng thời điểm cấp giấy sử dụng đất số 111, bản đồ năm 1994 cho ông Hoa đã có dán thông báo và phát trên loa phát thanh nên UBND huyện mới cấp sổ đỏ cho anh Hoa với diện tích là 206m2. Nhưng theo tìm hiểu, chính quyền địa phương chưa bao giờ thực hiện việc phát lên hệ thống loa truyền thông xã những nội dung có liên quan hoặc hướng dẫn làm thủ tục hành chính trước khi tiến hành cấp sổ đỏ cho người dân.
Cần phán xét rõ ràng
Theo tìm hiểu, trong thời gian bà Phương đang gửi đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân Tối cao nhằm xem xét lại trình tự xét xử cùng nội dung kết luận trong hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm thì tại mảnh đất đang có tranh chấp, gia đình anh Hoa đang khẩn trương thi công và hoàn thiện ngôi nhà cao tầng. Quá bức xúc, bà Phương lại gửi đơn thư lên các cấp ban ngành dừng ngay việc xây dựng mà theo bà là không đúng luật. Nhưng bất thành, với lý do là các cấp ban ngành địa phương chỉ trả lời chung chung kiểu “anh Hoa đã thắng ở 2 phiên tòa nói trên thì được xây”. Còn sau này khi tiếp tục ra tòa, bên nào thắng sẽ tính biện pháp xử lý sau. Với diễn biến phức tạp đó, rất mong các cơ quan có thẩm quyền nhanh chóng xét xử công bằng để trả lại quyền lợi chính đáng cho người dân. Những quyết định của tòa phải công tâm, minh bạch để cả nguyên đơn, bị đơn phải “tâm phục, khẩu phục”. Đó cũng là cách giảm bớt tình trạng khiếu kiện kéo dài như hiện nay.
|
|
