Bốn mảnh đời "chung" một… đôi mắt

04-12-2009 10:36 | Xã hội
google news

Khó có thể diễn tả hết nỗi đau đến xé lòng của người phụ nữ này, khi 12 lần sinh bà có tới 9 đứa con bị mù lòa, dị tật… chỉ có 3 đứa trời cho "cái sáng".

Khó có thể diễn tả hết nỗi đau đến xé lòng của người phụ nữ này, khi 12 lần sinh bà có tới 9 đứa con bị mù lòa, dị tật… chỉ có 3 đứa trời cho "cái sáng". Nhưng rồi người chồng và những đứa con tội nghiệp cũng lần lượt bỏ bà ra đi, trong ngôi nhà xập xệ giờ còn sót lại bốn mảnh đời "chung"… một đôi mắt, nhưng cũng đã lờ mờ bởi những gánh nặng áo cơm…

Hạnh phúc không trọn vẹn

Sinh năm 1947, chị Nguyễn Thị Út, ở thôn Thanh Lạng, Thanh Hóa, (Tuyên Hóa, Quảng Bình) cũng như bao cô gái thôn quê, vốn xinh xắn, hiền lành nên được nhiều chàng trai theo đuổi. Năm 17 tuổi, ở cái tuổi đẹp nhất của người con gái, mặc dù có nhiều chàng trai mong được kết tóc, se tơ, nhưng chị đã chọn anh. Chồng chị - anh Cao Xuân Thân một chàng trai khỏe mạnh ở làng bên...

Đôi mắt bà Út liệu còn đủ soi sáng cho cuộc đời các con?

Đầu năm 1965, chị sinh đứa con trai đầu lòng bụ bẫm, đặt tên là Cao Minh Văn trong niềm vui khôn xiết của cả gia đình. Khi đứa con trai chưa đầy 2 tháng tuổi, còn chưa nhìn rõ mặt cha, thì tháng 2/1965 trước tình hình căng thẳng của chiến trường miền Nam, đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, anh lên đường nhập ngũ, chiến đấu ở mặt trận phía Nam, tại Đại đội 3, Tiểu đoàn 2KT.

Ngày anh lên đường chị chỉ còn biết ôm chặt đứa con thơ vào lòng mà dặn rằng: "Anh lên đường mạnh khỏe, hẹn ngày thống nhất gia đình lại sum họp". Nhưng chiến tranh là thế! Có biết bao người ra đi và mãi mãi không bao giờ trở lại. Như tiếng sét đánh ngang tai khi chị nhận được giấy báo tử, báo chồng chị hy sinh ngày 27/11/1965.

Mặc dù yêu chồng thương con, nhưng sống trong cảnh "mẹ góa con côi" khi tuổi đời còn quá trẻ, cũng như bao người phụ nữ khác, chị cũng cần một bờ vai nâng đỡ của người đàn ông. Năm 1970, chị quyết định đi bước nữa với anh Hoàng Văn Như - một người lính đã từng chiến đấu ở chiến trường B, (Buôn Ma Thuột, đường 9 Nam Lào). Họ đến với nhau ngoài tình yêu còn là tình thương, sự cảm phục trước hy sinh lớn lao của người lính, bởi anh cũng đang sống trong cảnh "gà trống nuôi con".

Từ khi chị về, trong ngôi nhà đã lâu thiếu vắng bàn tay của người phụ nữ bỗng trở nên gọn gàng hơn và luôn đầy ắp tiếng cười con trẻ. Nhưng “niềm vui ngắn chẳng tày gang”, khi những đứa con của họ lần lượt ra đời đều mắc căn bệnh mù lòa, tai điếc, chân tay dị tật... "Năm 1971, tôi sinh cháu Hoàng Văn Viên, khi sinh ra thấy cháu không bình thường như những đứa trẻ khác, người nhà đưa cháu sang phòng bên không cho tôi gặp, họ sợ tôi sốc. Biết có điềm chẳng lành, tôi vừa khóc vừa đòi gặp cháu. Cháu sinh ra đã bị mù cả hai mắt...". Và những giọt nước mắt xót xa của bà cứ chảy dài sau mỗi lần sinh như thế!

Ứơc mơ một lần nhìn thấy mẹ!

Khi chưa gặp bà Út, tôi cũng đã từng đặt ra rất nhiều câu hỏi. Sao mà sinh nhiều thế...? Nhưng có gặp và tâm sự với bà mới thấu hiểu được nỗi lòng của người mẹ. Sinh con ra ai chẳng muốn con cái khỏe mạnh, thành người và vợ chồng bà luôn khao khát có được những đứa con như thế. Nhưng bà đâu biết rằng, những đứa con mù lòa, dị tật đó là kết quả của những tháng ngày chồng bà "nếm mật, nằm gai" nơi tuyến lửa.

Trong 12 đứa con, thì có đến 9 đứa bị mù lòa, dị tật, đau buồn hơn có 6 người từ khi sinh ra cho đến lúc qua đời chỉ nằm bẹp một chỗ. Nỗi đau nối tiếp nỗi đau. Đôi mắt bà đỏ hoe, những nếp nhăn trên đôi gò má gầy khô cứ xô nhau ép lại vắt ra tường giọt nước mặn đắng, khi bà kể về những đứa con bất hạnh của mình. "Khổ lắm chú ơi! Sao bảo ông trời không lấy đi của ai tất cả, thế mà 9 đứa con của tôi lại "lấy hết phần" người ta. Nào chúng đã mù lòa, lại còn điếc và bại liệt nữa chứ, thế mới khổ cái đời tôi...". Nghe bà kể mới xót xa làm sao! Khó ai có thể tưởng tượng được trong ngôi nhà chỉ hơn 20m2 đó lại là nơi cư trú của 9 con người mù lòa, khiếm thính... chẳng khác nào cái "trung tâm" người tàn tật. Thế mới biết được sự chống chọi của những số phận đớn đau như thế nào!

Cuối năm 2002, đứa con trai thứ tư, sau 27 năm nằm liệt giường cũng đã về với tổ tiên. Những lư hương lớn nhỏ trên chiếc bàn thờ, phải chăng đó là nơi đi về của những linh hồn bé nhỏ, tội nghiệp...

Hôm tôi đến, hai anh em Viên, Phong đang đi mò cua. Được một người dẫn đường, tôi được dẫn đến bờ kênh nơi hai anh em đang mò từng con cua, con ốc. Chứng kiến họ "chiến đấu" với miếng cơm manh áo, mà câu "giàu hai con mắt, khó hai bàn tay" mới thấm thía làm sao. Từ giữa con kênh sâu Viên và Phong lần theo sợi dây vào bờ. "Thời gian đầu đi bắt ốc khổ lắm, mấy lần ngã xuống vực, mắt lại không nhìn thấy, người ta biết thì mò dần vào bờ, đằng này cứ thế vùng vẫy ra xa. May có người chăn trâu gần đó thấy chạy tới cứu, chứ không đã "toi" lâu rồi. Hôm đó đang lần vào bờ thì vướng phải sợi dây, lần theo nó vào bờ thấy dễ tôi chợt nảy ra ý, hôm sau cứ thế mang sợi dây theo buộc vào gốc cây đầu bờ, một đầu buộc vào bụng, nếu nhỡ có ra xa quá còn biết đường mà vào". Viên giải thích.

Cả 12 đứa con bà Út chưa một lần được đến trường. Tuổi thơ của chúng là những tháng ngày làm quen với con ngõ ngoằn ngoèo dẫn ra bờ sông, con kênh nơi chúng kiếm sống và những lần suýt trao mạng cho Hà Bá... Phong thủ thỉ: "Mẹ em đẹp lắm phải không anh? Em nghe người ta nói, ngày xưa mẹ em đẹp và hiền lắm, nhưng sao sờ lên mặt mẹ chỉ toàn thấy nếp nhăn? Mẹ thương chúng em lắm, nhất là những lần bị ốm. Em ước gì một lần được nhìn thấy mẹ!". Tôi nhìn Phong mà lòng xót xa...

Anh em Viên, Phong đang bổ củi.

Nỗi đau da cam hay… bi kịch dị tật?

Xách giỏ cua, ốc về đến nhà, chưa kịp thay quần áo, Viên, Phong đã cầm dao, búa ra bổ củi. Có lẽ cảm nhận được tôi đang ngắm và chụp ảnh những động tác bổ củi thuần thục của mình, Viên vừa bổ, vừa tâm sự:"Làm mãi cũng thành quen anh ạ! Trước kia cũng bị mấy lần bổ vào tay tứa máu, nhưng "luyện" mãi giờ bổ phát nào là "ăn" phát đó ngay". Phong cho biết, cách đây vài năm, 3 anh em đã từng đi khắp làng trên xóm dưới để chẻ củi thuê. Nhưng bây giờ họ toàn dùng gas nên "thất nghiệp". Cứ đến mùa lại ra đồng bóc vỏ ngô, gặt lúa thuê mỗi ngày cũng kiếm được 20 - 25.000 đồng. Tóm lại ai thuê gì thì làm nấy, không kể nắng hay mưa, có việc là anh em họ lên đường ngay.

Trong căn nhà dường như chẳng có gì đáng giá. Chiếc giường ọp ẹp, vài ba cái xoong méo mó nằm chỏng chơ nơi cuối bếp, duy chỉ có tấm huân chương kháng chiến của chồng bà Út là có giá trị nhất.

Năm 1993 chồng mất, mọi gánh vác đổ hết lên đôi vai gầy guộc của bà. Mỗi khi trái gió trở trời, mình mẩy đau nhức từng khớp chân, đốt tay. Nhưng nhiều đêm bà vẫn phải gượng dậy nấu bát cháo cho con, khi chúng đau ốm. Thấy hoàn cảnh éo le, bà con hàng xóm ai cũng thương, có việc gì họ lại bảo và khi thì cho củ khoai, con cá... nhưng bữa cơm hàng ngày 4 mẹ con cũng chỉ có bát mắm, đĩa dưa hay vài ba con cua, bát ốc, nếu hôm nào "hàng ế"...

Chia tay mẹ con bà Út, tôi chợt nhớ câu nói đầy ước vọng của Viên: "Nghe người ta nói em bị nhiễm chất độc da cam. Nhưng em nào biết chất độc da cam là gì! Em không mong họ sẽ công nhận mình "bị" nhiễm chất độc da cam. Chỉ ước gì được vào hội khuyết tật để được học nghề, có chăng cũng đủ nuôi sống bản thân, chứ thân cò lặn lội thế này khổ lắm!". Một ước mơ thật giản dị, thế mà với họ còn hơn cả một niềm ước ao...

Phóng sự: Việt Tùng


Ý kiến của bạn