Bình nguyên mùa bông lau

Xã hội
Tôi quyết định chọn cửa ngõ qua sông K'Rông Nô để bắt đầu cho chuyến khám phá Tây Nguyên bằng hành trình độc hành trên "con ngựa sắt".

Tôi quyết định chọn cửa ngõ qua sông K'Rông Nô để bắt đầu cho chuyến khám phá Tây Nguyên bằng hành trình độc hành trên "con ngựa sắt". Tổng cộng 1.300km từ cực Nam lên cực Bắc Tây Nguyên và hai chuyến rẽ ngang về vùng cư dân Bahnar ở K'Bang, Kông Chro đã để lại những trải nghiệm khó quên. Đi trong Tây Nguyên mới thấy nhận định của Henri Maitre trong tác phẩm "Rừng mọi" (một tác phẩm mà theo nhà văn Nguyên Ngọc, cho đến nay vẫn được xếp là công trình khảo sát cơ bản nhất về Tây Nguyên) chính xác: Tây Nguyên không phải là một dãy núi mà là một bình nguyên nằm trên cao. Một bình nguyên vĩ đại, tràn đầy cảm xúc và vô cùng màu mỡ về văn hóa dân gian.

Bình nguyên đón lữ khách mạo hiểm bằng bạt ngàn bông lau. Cái thứ hoa bình dị, tím thao thiết khi nở nhưng rồi nhanh chóng trắng phất phơ, nhẹ tênh lòng chỉ sau vài ba cơn gió và nửa ngày ươm nắng. Lau nở tràn ngập bờ sông K'Rông Nô, triền miên vùng Đăk Nuê phủ đầy những vực sông Đăk B'la và đủ để che lấp cảm giác hiểm trở bên những vực sâu con đèo Mang Yang nối về miền Tây Sơn Thượng Đạo... Lau lách hoang dã có thể tạo cảm giác biên viễn nhưng hoa lau tím rồi trắng lại đưa đến xúc cảm bình yên đến nao lòng.

Đi trong Tây Nguyên, đi giữa lòng Tây Nguyên, khó có thể hình dung đang đi giữa vùng rừng núi. Suốt hành trình ngược hơn 500km từ Lâm Đồng lên tận Đăk Glei của vùng Kon Tum, qua nhiều vùng đất, tôi có cảm giác như đang đi trong những làng quê Bắc Bộ. Cánh đồng lúa mướt xanh Đắc Nuê, những rặng dừa phủ mái ngói tươi rói ở Nhơn Hòa - Chư Sê hay vùng bình nguyên trập trùng từ thành phố Pleiku kéo dài hơn 50km tới đèo Mang Yang phía Đông Gia Lai đã chứng minh điều Henri Maitre nói là hoàn toàn chính xác. Tây Nguyên chỉ cao vút ở hai đầu, với cực Bắc là cụm núi Atouoat bao quanh và tôn lên đỉnh Ngok Linh 2.598m; cực Nam là dãy Chư Yang Sin đẩy điểm cực về tận đỉnh Langbiang. Giữa hai cụm núi huyền thoại ấy là một bình nguyên mênh mông, bằng phẳng. Có lần, nhà văn Nguyên Ngọc đã ví "Đứng tại thành phố Buôn Ma Thuột chẳng hạn nhìn quanh, thấy cụm núi quan trọng nhất của tỉnh Đăk Lăk là Đ'leya cũng xa tương tự như từ Hà Nội nhìn lên Ba Vì hay Tam Đảo". Hà Nội lên Tam Đảo xa những hơn 75km, vì thế cảm xúc bình nguyên của tác giả Đất nước đứng lên - người hiểu Tây Nguyên như hiểu cái bụng mình cũng là điều hiển nhiên vậy.

 Hoa lau nở thao thiết bên bờ sông K'rông Nô.

Thư thả, nhàn rỗi dong xe theo những triền lau, tôi không rõ mình đang đi tìm điều gì cụ thể. Mỗi cung đường đong đầy ánh mặt trời đầu mùa khô, nhìn từ chân dốc tít tắp như một dòng sông ánh sáng; mỗi cánh rừng bình yên bên các trục đường ngang dọc Tây Nguyên; mỗi rặng dừa bờ tre được bao lớp người di dân gánh theo tên làng lên miền Thượng...; hay ánh mắt những em bé Bahnar, Ê Đê, Giẻ Triêng bên đường đều để lại cảm xúc xao xuyến lạ kỳ. Tôi không rành về nhân chủng học nhưng hình như tất cả những tộc người thuộc hai ngữ hệ Môn - Khơme (Nam Á) và Malayo - Polynésien (Nam Đảo) đang cư trú rải rác trên toàn cõi Tây Nguyên đều có chung một ánh mắt nhìn hoang dã, hồn nhiên, chứa chất sự phóng khoáng, gần gũi đến nôn nao của thảo nguyên bao la. Lên với bình nguyên để vợi bớt cảm giác ngột ngạt, tạm thời rũ bỏ những bon chen, ngẫm ra cũng đã là một thành công không dễ có vậy. Cử chỉ từ chối nhận chút tiền bồi dưỡng sau 2 giờ dẫn đường cho chúng tôi luồn rừng tìm lại dấu tích người đàn bà Bahnar Bờ Nơm từng tập hợp buôn làng làm rẫy cho anh em nhà Tây Sơn đánh giặc của Đinh H'lun - người đàn ông ở làng Kuao phía Đông Trường Sơn đã khiến chúng tôi thấy ngượng. Trong một lần trò chuyện về Tây Nguyên, cây đại thụ về văn hóa dân gian - giáo sư Tô Ngọc Thanh đã khái quát: "Văn hóa chỉ có sự khác biệt, không có sự hơn kém". Đinh H'Lun và rất nhiều người Bahna, Ê Đê, Gia Lai khác trong hành trình gặp gỡ của chuyến đi Tây Nguyên này đã cho tôi những trải nghiệm khó gọi tên. Và cũng thật khó để gọi tên điều gì trong những ngày đong đầy cảm xúc bình nguyên. Bởi nói như tiến sĩ sử học Nguyễn Thị Kim Vân - Trưởng phòng Nghiệp vụ - Sở Văn hóa Thể thao Du lịch Gia Lai, người đã có hơn 20 năm nghiên cứu lịch sử, văn hóa Bắc Tây Nguyên: "Tôi cũng chỉ là người cưỡi ngựa xem hoa, viết cái gì đó về Tây Nguyên cũng chỉ dám đặt tít "Thử bàn..." mà không dám khẳng định".

Ngày thứ năm liên tục di chuyển, tôi vượt đèo Mang Yang về sườn Đông Trường Sơn. Quốc lộ 19, "con đường chết" của Mỹ - Ngụy khi những chiến sĩ giải phóng Bắc Việt bất ngờ mở màn chiến dịch Tây Nguyên và thần tốc giải phóng Buôn Ma Thuột 35 năm trước giờ đây tràn ngập màu xanh và ánh sáng. Chín mươi kilômet từ thành phố Pleiku về thị xã An Khê chỉ thoáng qua cảm giác hiểm trở khi vượt con đèo Mang Yang. Ấn tượng hiểm nguy có lẽ cũng chỉ xuất phát từ tâm lý tháo chạy của những kẻ cướp nước thuở trước, chứ thực ra cả về chiều dài, sự trắc trở của địa hình trên đèo Mang Yang còn thua xa những cung đèo khác ở Nam Tây Nguyên như Sông Pha, Bảo Lộc... Phía Đông đèo Mang Yang, trải dài qua các huyện Đăk Pơ, K'Bang, Kông Chro của Gia Lai là một vùng quê khá lạ. Gần 80% một nửa thành tố Hán - Việt trong tên gọi các địa danh làng, xã của vùng đất này đều có từ tố "An". Chỉ riêng vùng thị xã An Khê đã có hàng loạt ngôi làng có tên như An Điền, An Thạch, An Bình, An Xuân, An Thượng, Tú An, Nghĩa An, Phú An... Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Vân đã khá tinh tế khi nhận xét: "Người Việt bắt đầu lên sinh cơ, lập nghiệp ở phía Đông Gia Lai từ thế kỷ XVII. Việc một bộ phận dân cư từ hàng nghìn năm vốn chỉ quen khai phá các đồng bằng phải vượt qua độ cao nghìn mét vào vùng rừng thiêng nước độc thật không dễ dàng. Nếu không phải là những tù binh, những người có cuộc sống cùng cực, hoặc bị chính quyền phong kiến truy bức, những quan binh được giao nhiệm vụ... thì chắc chắn ở thời điểm ấy, không người Việt nào dám mạo hiểm tiến về phía Tây mịt mù để trao gửi cuộc đời và gia quyến. Trong hoàn cảnh ấy, những người đến vùng đất mới chỉ mong được bình an". Lớp địa danh hình thành sớm ở Đông Gia Lai phải chăng chỉ thể hiện ước mơ bình dị ấy?

Giả thiết, nhận định có lẽ không còn là cái phải ráo riết đi tìm, bởi sau hàng trăm năm lịch sử sự gắn kết Kinh - Thượng trên bình nguyên bao la đã trở thành máu thịt, mái nhà chung của Tổ quốc đã vững chãi hơn, giàu đẹp hơn. Đêm nằm ngủ trong một khách sạn khá sang trọng ở thị xã An Khê, mở cửa sổ phía Tây lao xao gió rừng lành lạnh, nhưng ra hành lang phía Đông lại nghe như có mùi nồng nàn của biển. Khó ngủ, bấm máy gọi cho người bạn học khá thân thiết thuở sinh viên, một cô gái đất võ Tây Sơn mang trong mình một nửa dòng máu Bahnar. Nàng bảo: "Vùng đất dưới chân anh là nơi đã từng tồn tại mối tình Kinh - Thượng lãng mạn đầu tiên". Nàng đang muốn nhắc về ký ức gần của những năm tháng giảng đường đáng nhớ, còn tôi nhờ thế lại có thêm một chuyến vào sâu vùng Tây Sơn Thượng Đạo, đi tìm dấu tích bà Ya Đỗ - người phụ nữ Bahnar đầu tiên từng góp công cho chiến thắng của anh em nhà Quang Trung - Nguyễn Huệ bằng việc huy động bà con buôn làng khai phá một cánh rừng rộng hơn 80ha trồng lúa và mít nuôi nghĩa quân Tây Sơn. Lỡ hẹn với người cũ vì không thể đi thêm 30km Quốc lộ 19 về thăm nơi em sinh ra nhưng bù lại tôi đã được Đinh H'lun dẫn đường tìm   những cây mít hơn 150 năm tuổi vẫn còn cho quả lúc lỉu trong rừng Cô Hầu - một tên gọi khác của người tình Nguyễn Nhạc.

Kết thúc hành trình, trở về bình yên bỗng nhớ cái nắm tay lắc lắc, cặp mắt hấp háy khói bếp và lời chúc đi đường chân cứng đá mềm của cụ già Bahnar Đinh Keo ở làng B'Yang giữa rừng xanh Kông Chro.

Sơn Tùng


Ý kiến của bạn