Ý kiến sau bài báo Nông dân và giấc mơ xuất ngoại

Thời sự
Công ty Nhân lực và Thương mại Quốc tế đã có Công văn số 31 do ông Phó Giám đốc Phạm Hoài Minh ký ngày 25/1/2001 hồi đáp loạt bài Nông dân và giấc mơ xuất ngoại trên báo SK&ĐS với nội dung sau:

* Công ty không giải quyết trên cơ sở cảm tính

Công ty Nhân lực và Thương mại Quốc tế đã có Công văn số 31 do ông Phó Giám đốc Phạm Hoài Minh ký ngày 25/1/2001 hồi đáp loạt bài Nông dân và giấc mơ xuất ngoại trên báo SK&ĐS với nội dung sau:

"Công ty Nhân lực và Thương mại Quốc tế thuộc Tổng Công ty Vận tải thủy xin gửi lời chào và cảm ơn quý báo đã quan tâm và phản ánh các nội dung công việc liên quan của công dân.

Sau khi sang làm việc tại Liên bang Nga, không chỉ các lao động do công ty đưa đi nói riêng mà hầu hết lao động Việt Nam nói chung làm việc tại thị trường này đều gặp rất nhiều khó khăn về công việc, thu nhập và điều kiện sinh hoạt do tình hình kinh tế - xã hội tại nước bạn đi vào cuộc suy thoái do khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Trước tình hình trên, công ty đã không ngừng phối hợp với các bên liên quan sắp xếp giải quyết các khó khăn nhằm khắc phục và ổn định tình trạng công việc, thu nhập và cuộc sống sinh hoạt cho các lao động. Tuy nhiên, do tình hình suy thoái thời điểm đó ngày càng xấu đi và chưa có dấu hiệu hồi phục, công ty đã quyết định đưa các lao động về nước trước hạn hợp đồng nhằm tránh những rủi ro đáng tiếc có thể xảy ra đối với người lao động. Về vấn đề này, công ty khẳng định đã thể hiện rất cao vai trò trách nhiệm đối với người lao động trong bối cảnh tình hình phức tạp lúc bấy giờ.

 Làm thủ tục đi lao động nước ngoài.

Về trách nhiệm giải quyết quyền lợi và thanh lý hợp đồng sau khi người lao động về nước, công ty là doanh nghiệp dịch vụ XKLĐ hoạt động theo các quy định của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, đối với quyền lợi của người lao động, công ty đều giải quyết trên cơ sở căn cứ các quy định hướng dẫn của các cơ quan quản lý nhà nước, đồng thời đã xem xét đến thực trạng khó khăn của các lao động. Công ty không thể tùy tiện giải quyết trên cơ sở cảm tính chủ quan của đơn vị. Trong trường hợp cụ thể này, công ty khẳng định đã làm đúng các quy định của Nhà nước trong việc thanh lý hợp đồng và giải quyết các quyền lợi hợp pháp đối với người lao động. Trong vụ việc này thông qua việc không né tránh trách nhiệm, thường xuyên chủ động gặp gỡ và bàn bạc với người lao động và thân nhân nhằm tìm tiếng nói chung để giải quyết thỏa đáng quyền lợi của lao động ngay cả khi các lao động chưa về nước. Do đó, tính đến ngày 19/1/2010, đã có 15/21 lao động đi Liên bang Nga về nước đã đồng ý với các nội dung giải quyết quyền lợi của công ty theo đúng quy định của Nhà nước và đã hoàn tất việc thanh lý hợp đồng. Đến nay, còn 6 lao động tại khu vực Song Mai - TP. Bắc Giang vẫn chưa thống nhất các nội dung giải quyết thanh lý hợp đồng. Công ty cho rằng, các nội dung được phản ánh trong bài báo mới chỉ nêu ý kiến của một nhóm lao động, chưa phản ánh hết tâm nguyện và tình trạng chung của tất cả các lao động đã về nước. Hiện tại, công ty vẫn tiếp tục thông tin và mời 6 lao động nêu trên làm việc với công ty nhằm giải quyết dứt điểm các nội dung công việc liên quan.

Công ty xin báo cáo quý báo các nội dung công việc liên quan nêu trên, đồng thời kính đề nghị quý báo tiếp tục hợp tác giúp đỡ công ty cũng như các doanh nghiệp khác giải quyết ổn thỏa quyền lợi của người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo đúng các quy định của Nhà nước nhằm tạo tinh thần tích cực đối với phong trào XKLĐ của người lao động cả nước nói chung.

Trân trọng cảm ơn!”

* Người lao động cần biết đòi hỏi quyền lợi...

Sau bài báo Nông dân và giấc mơ xuất ngoại đăng tải trên Sức khỏe & Đời sống, ông Nguyễn Gia Liêm - Trưởng phòng Thông tin - Cục Quản lý lao động ngoài nước - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cho phóng viên biết: "Với cách nhìn khách quan của một chuyên gia trong lĩnh vực này, nếu người lao động (NLĐ) không có được việc làm như cam kết của hợp đồng, thì doanh nghiệp đưa người đi sẽ phải chịu trách nhiệm về những khoản phí như phí môi giới, hay phí dịch vụ... ".

Ông cũng thừa nhận, văn bản xét về một khía cạnh nào đó, còn mang nặng tính nguyên tắc, nên... "không lường hết, không bao trùm được toàn bộ các tình huống cụ thể". Ví dụ như trong Thông tư liên tịch số 16/2007/TTLT của Bộ LĐ-TBXH và Bộ Tài chính thì: Tiền lương để xác định mức phí môi giới và phí dịch vụ là tiền lương cơ bản theo hợp đồng của NLĐ. Nhưng trong trường hợp nhóm lao động ở Bắc Giang trên thực tế phải làm việc không lương (chỉ có hỗ trợ 2 bữa ăn) và phải về nước trước thời hạn vì lý do bất khả kháng, thì Thông tư... "chưa đề cập cụ thể". Trong thực tế có những trường hợp doanh nghiệp cố tình kéo dài thời gian "cầm cự" của NLĐ, bằng cách hứa hẹn hoặc đưa ra những viễn cảnh khiến họ tiếp tục hy vọng, rồi sau đó căn cứ vào thời gian "làm việc" để tính phí môi giới và phí dịch vụ nhiều hơn.

 Người lao động có thể vào trang web của Cục Quản lý lao động ngoài nước - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để tìm kiếm thông tin về xuất khẩu lao động.

Theo ông Liêm, doanh nghiệp đưa người đi lao động cần có những thoả thuận chi tiết về những rủi ro phát sinh này ngay trong bản hợp đồng với NLĐ, thậm chí có bài hướng dẫn cho NLĐ để họ hiểu và đồng ý trước khi bước lên máy bay. Ví dụ như trong trường hợp mức lương bằng không thì tính phí môi giới và dịch vụ ra sao; khoản tiền vé máy bay đi về bên nào chịu, nếu phát sinh rủi ro thì giải quyết thế nào (vì theo ông Liêm có những trường hợp bên sử dụng lao động chịu vé máy bay, có khi là doanh nghiệp XKLĐ chịu, chứ không phải lúc nào NLĐ cũng phải chịu chi phí này).

NLĐ cũng cần đòi hỏi quyền lợi của mình đối với những thoả thuận này, tốt nhất là xem xét thật kỹ lưỡng từng điều khoản, có gì thắc mắc cần hỏi đáp ngay. Vì sau đó doanh nghiệp XKLĐ cứ căn cứ vào hợp đồng mà giải quyết.

Ông Liêm cũng cho rằng, qua những vụ việc thế này, báo chí đã góp phần chỉ ra được những "lỗ hổng" để những cơ quan quản lý nhà nước hoàn thiện hơn các văn bản, quy định.

Tuy nhiên, thực tế NLĐ chủ yếu là những nông dân, những lao động phổ thông, vốn hiểu biết có hạn, thêm vào đó họ lại đang "hừng hực khí thế" thoát khỏi đói nghèo trong tầm tay chẳng hề tính hết rủi ro. Còn doanh nghiệp XKLĐ, tất nhiên thường không đi "mua dây buộc mình" với những bản hợp đồng quá tỉ mỉ có thể gây bất lợi nếu xảy ra biến cố. Thiết nghĩ, các cơ quan quản lý cần nhanh chóng bổ sung những hướng dẫn chi tiết hơn nữa để quy định không xa rời thực tế, đảm bảo quyền lợi chính đáng cho NLĐ.      

            XH-BĐ


Ý kiến của bạn