Y học hỗ trợ sinh sản Việt Nam: Kỳ tích 'lội ngược dòng' sau hai thập kỷ

27-02-2026 06:00 | Y học 360
google news

SKĐS - Khởi đầu muộn hơn thế giới gần 20 năm, từng phải học từ những kỹ thuật cơ bản nhất, nhưng bằng trí tuệ, sự khéo léo và nỗ lực bền bỉ, ngành Hỗ trợ sinh sản IVF Việt Nam đã có cuộc lội ngược dòng ấn tượng. Từ chỗ làm chủ công nghệ, Việt Nam vươn lên thành điểm sáng trong khu vực.

Hành trình 25 năm thu hẹp khoảng cách và sự bứt phá thần tốc

Năm 1978, thế giới chấn động khi em bé thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) đầu tiên ra đời tại Anh. Lúc bấy giờ, Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn khó khăn sau chiến tranh, khái niệm về IVF còn quá xa vời. Phải đến 20 năm sau, vào năm 1998, tiếng khóc chào đời của ba em bé IVF đầu tiên tại Bệnh viện Từ Dũ (TP.HCM) mới chính thức đánh dấu sự hiện diện của Việt Nam trong lĩnh vực này.

Xuất phát điểm là con số 0 tròn trĩnh, đi sau thế giới một quãng đường rất dài, nhưng tốc độ phát triển của ngành hỗ trợ sinh sản Việt Nam lại khiến cộng đồng y khoa quốc tế phải kinh ngạc. Từ chỗ phải mời chuyên gia nước ngoài cầm tay chỉ việc, các bác sĩ Việt Nam đã nhanh chóng tiếp thu, làm chủ và sáng tạo.

Đánh giá về chặng đường lịch sử này, ThS.BS Đinh Anh Tuấn - Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em (Bộ Y tế) nhận định: "IVF là một trong những lĩnh vực phát triển mạnh mẽ nhất trong ngành y tế ở nước ta. Hầu hết các kỹ thuật tiên tiến trên thế giới đều đã được triển khai tại Việt Nam, từ IVF cổ điển, công nghệ ICSI (tiêm tinh trùng vào bào tương noãn), nuôi cấy tinh tử, trưởng thành noãn non, xử lý các ca khó như lạc nội mạc tử cung đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong theo dõi phát triển của phôi".

Y học hỗ trợ sinh sản Việt Nam: Kỳ tích 'lội ngược dòng' sau hai thập kỷ- Ảnh 1.

Kể từ tiếng khóc chào đời của ba em bé IVF đầu tiên tại Bệnh viện Từ Dũ năm 1998 , đến nay đã có hơn 170.000 em bé ra đời nhờ các phương pháp hỗ trợ sinh sản , khẳng định bước tiến thần tốc của y học Việt Nam trên bản đồ thế giới. Ảnh: Bệnh viện Từ Dũ

Sự phát triển này không chỉ mang tính tự phát mà nằm trong chiến lược quy hoạch bài bản. Theo số liệu từ Cục Bà mẹ và Trẻ em, tính đến nay, mạng lưới hỗ trợ sinh sản đã phủ rộng khắp cả nước với hơn 70 cơ sở được cấp phép hoạt động. Con số này không chỉ phản ánh quy mô mà còn cho thấy sự lớn mạnh về năng lực chuyên môn của hệ thống y tế Việt Nam.

Kỹ thuật Việt vươn tầm thành chuẩn mực quốc tế

Một trong những niềm tự hào lớn nhất của ngành IVF Việt Nam không chỉ nằm ở số lượng ca thực hiện mà là ở chất lượng điều trị. Nhiều kỹ thuật khó như nuôi cấy trưởng thành noãn non (IVM), tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI), hay sàng lọc di truyền tiền làm tổ đã được nhiều cơ sở thực hiện với độ chính xác cao. Tỷ lệ thành công của các ca thụ tinh trong ống nghiệm tại Việt Nam hiện nay dao động trung bình từ 40-50%, cá biệt có những trung tâm đạt tỷ lệ cao hơn đối với các nhóm bệnh nhân khó. Đây là con số mà ngay cả nhiều trung tâm lâu đời tại Châu Âu hay Mỹ cũng phải mơ ước.

Đặc biệt, Việt Nam nổi lên như một quốc gia đi đầu về kỹ thuật trưởng thành noãn non trong ống nghiệm. Nhờ sự cần mẫn, ham học hỏi và sự khéo léo bẩm sinh của đôi bàn tay người Việt, kết hợp với nền tảng khoa học vững chắc, các phác đồ điều trị của Việt Nam đã đóng góp quan trọng vào tri thức y khoa thế giới về hỗ trợ sinh sản.

Các bác sĩ Việt Nam không chỉ giỏi về lâm sàng mà còn rất mạnh về nghiên cứu khoa học. Chúng ta được xem là một trong những nước đi đầu về học thuật về hỗ trợ sinh sản trong khu vực và nằm trong top 10 nước dẫn đầu về phát triển kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Việt Nam hiện là nước có nhiều nghiên cứu lâm sàng công bố quốc tế nhất trong khu vực ASEAN trong những năm gần đây và thường xuyên được mời báo cáo, trao đổi kinh nghiệm tại các hội nghị khoa học khu vực và quốc tế. Nhiều công trình nghiên cứu của các chuyên gia Việt Nam đã được đăng tải trên các tạp chí y khoa uy tín hàng đầu như Human Reproduction, Fertility and Sterility... và được các đồng nghiệp quốc tế trích dẫn như những tài liệu tham khảo chuẩn mực.

Y học hỗ trợ sinh sản Việt Nam: Kỳ tích 'lội ngược dòng' sau hai thập kỷ- Ảnh 2.

Với hệ thống máy móc tiên tiến và ứng dụng AI, tỷ lệ thành công IVF tại Việt Nam hiện đạt mức 40-50%, tương đương với các nước phát triển. Ảnh: Bệnh viện Phụ sản Trung ương.

Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em, ThS.BS Đinh Anh Tuấn cho biết thêm, sự công nhận này còn thể hiện qua việc ngày càng có nhiều đoàn chuyên gia, bác sĩ từ các nước trong khu vực (như Indonesia, Philippines, Malaysia...) và cả các nước phát triển sang Việt Nam để chia sẻ, học tập kinh nghiệm. Từ vị thế người đi học, Việt Nam đã đứng ở vị thế của một quốc gia tham gia phát triển, chia sẻ và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản.

Chi phí nội địa cho chất lượng toàn cầu

Bên cạnh yếu tố chuyên môn, một bước ngoặt khác mà IVF Việt Nam tạo ra chính là khả năng tiếp cận dịch vụ. Trên thế giới, IVF thường được xem là dịch vụ xa xỉ, chỉ dành cho giới thượng lưu với chi phí lên tới 15.000 - 20.000 USD/ca tại Mỹ, hay 5.000 - 8.000 USD tại các nước lân cận như Thái Lan.

Tuy nhiên, tại Việt Nam, chi phí cho một chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm thấp hơn rất nhiều, chỉ dao động trong khoảng 3.000 - 5.000 USD, nhưng hiệu quả điều trị lại tương đương.

Lãnh đạo Cục Bà mẹ và Trẻ em cho biết, vô sinh hiếm muộn đang là gánh nặng lớn, ảnh hưởng đến hạnh phúc của hàng triệu gia đình. Do vậy việc giữ được mức chi phí hợp lý trong khi vẫn đảm bảo chất lượng chuyên môn cao giúp cho những người thu nhập trung bình, thậm chí thu nhập thấp cũng có cơ hội được làm cha, làm mẹ. Đó là mục tiêu an sinh xã hội mà ngành y tế luôn hướng tới.

"Việc triển khai thành công kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm tại một tỉnh miền núi như Lào Cai là cơ hội vàng để đồng bào dân tộc, người dân nghèo, người có thu nhập thấp ở vùng sâu vùng xa được tiếp cận các kỹ thuật cao ngay tại địa phương mà không phải về Hà Nội, giúp giảm bớt gánh nặng chi phí rất lớn" – ThS.BS Đinh Anh Tuấn chia sẻ.

Chính nhờ chi phí thấp và tỷ lệ thành công cao, Việt Nam đang dần trở thành điểm đến của du lịch y tế trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản. Rất nhiều Việt kiều và người nước ngoài đã chọn về Việt Nam để thực hiện giấc mơ tìm con, tạo nên nguồn thu ngoại tệ và nâng cao uy tín của ngành y tế nước nhà.

Y học hỗ trợ sinh sản Việt Nam: Kỳ tích 'lội ngược dòng' sau hai thập kỷ- Ảnh 3.

Chọc hút trứng – Một bước then chốt trong quy trình thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) hiện đại tại Việt Nam. Ảnh: Bệnh viện Từ Dũ

Hành lang pháp lý và chiến lược vươn tầm

Để có được những thành tựu rực rỡ như hôm nay, không thể không nhắc đến vai trò kiến tạo của cơ quan quản lý nhà nước. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 10/2015/NĐ-CP quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và gần đây là Nghị định số 207/2025/NĐ-CP với nhiều nội dung quy định mới đã tạo ra một hành lang pháp lý thông thoáng cho việc phát triển của mạng lưới cung cấp dịch vụ hỗ trợ sinh sản trong toàn quốc, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân được tiếp cận dễ dàng tới các dịch vụ chất lượng cao với chi phí hợp lý, đồng thời vẫn đảm bảo tuân thủ chặt chẽ, đầy đủ các quy định của pháp luật.

Theo ông Đinh Anh Tuấn, vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước về y tế các cấp không chỉ là thẩm định, cấp phép mà còn là giám sát đảm bảo chất lượng và sự tuân thủ các quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người bệnh. Trong thời gian tới, Cục Bà mẹ và Trẻ em sẽ phối hợp với các đơn vị liên quan tại trung ương và địa phương tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy trình chuyên môn và quy định của pháp luật trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản, giúp cho mạng lưới dịch vụ hỗ trợ sinh sản không những phát triển về mặt số lượng mà còn không ngừng cải thiện chất lượng dịch vụ. Trong khi chưa có bộ tiêu chí chất lượng chuyên ngành hỗ trợ sinh sản của Việt Nam, Cục Bà mẹ và Trẻ em khuyến khích các đơn vị tham khảo các bộ tiêu chuẩn quốc tế (Ví dụ như RTAC) để chuẩn hóa quy trình chuyên môn, đảm bảo an toàn người bệnh và tuân thủ quy định của pháp luật về hỗ trợ sinh sản.

Trong thời gian tới, Cục Bà mẹ và Trẻ em sẽ phối hợp với Trung tâm Thông tin y tế quốc gia và các đơn vị liên quan xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về hỗ trợ sinh sản, giúp chia sẻ thông tin và quản lý tốt hơn các hoạt động về hỗ trợ sinh sản, tránh các rủi ro về mặt pháp lý và đạo đức.

Hơn 170.000 em bé đã chào đời nhờ các phương pháp hỗ trợ sinh sản tại Việt Nam trong hơn hai thập kỷ qua. Con số ấy không chỉ là thành tích của một ngành y học kỹ thuật cao, mà còn là hơn 170.000 niềm hạnh phúc trọn vẹn được thắp lên trong các gia đình. Nhìn lại chặng đường đã qua, từ những khó khăn thuở ban đầu đến vị thế đáng tự hào hôm nay, có thể thấy sự phát triển của IVF Việt Nam là sự kết hợp hoàn hảo giữa trí tuệ khoa học, bàn tay khéo léo và trái tim nhân hậu của người thầy thuốc.

Trong thời gian tới, với chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo Bộ Y tế, mạng lưới hỗ trợ sinh sản Việt Nam sẽ bước sang một giai đoạn mới, giai đoạn phát triển toàn diện cả về số lượng và chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân, từng bước, khẳng định bản lĩnh và tầm vóc Việt Nam trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu.

Những chính sách nổi bật có hiệu lực từ tháng 10/2025: Phụ nữ độc thân được quyền sinh con bằng IVFNhững chính sách nổi bật có hiệu lực từ tháng 10/2025: Phụ nữ độc thân được quyền sinh con bằng IVF

SKĐS - Phụ nữ độc thân được thực hiện IVF khi có nguyện vọng; Áp dụng quy định mới về cấp giấy chứng sinh cho trẻ; Xóa bỏ cơ chế Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng… là những chính sách mới có hiệu lực từ tháng 10/2025.


Kim Dung
Ý kiến của bạn