Bộ Y tế đang xây dựng, hoàn thiện dự thảo Chiến lược quốc gia phát triển nền y học cổ truyền Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trong đó đặt mục tiêu phát triển nền y học cổ truyền Việt Nam toàn diện, hiện đại, khoa học và hội nhập quốc tế; từng bước hình thành ngành kinh tế y, dược cổ truyền có giá trị gia tăng cao và xây dựng thương hiệu quốc gia về y học cổ truyền Việt Nam.
Chiến lược xác định phát triển y học cổ truyền là nhiệm vụ chiến lược, thường xuyên và lâu dài, gắn với bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, phát huy giá trị văn hóa dân tộc, đồng thời mở ra hướng phát triển mới dựa trên khoa học công nghệ, chuyển đổi số, dược liệu, công nghiệp và thị trường.
Từ chữa bệnh sang chăm sóc sức khỏe toàn diện
Một trong những quan điểm xuyên suốt của Chiến lược là chuyển từ tư duy sử dụng y học cổ truyền chủ yếu để chữa bệnh sang chăm sóc sức khỏe toàn diện.
Theo đó, y học cổ truyền được đặt trong tổng thể hệ thống y tế quốc gia, gắn với chăm sóc sức khỏe theo vòng đời, từ dự phòng, nâng cao sức khỏe, khám bệnh, chữa bệnh đến phục hồi chức năng và chăm sóc người cao tuổi.

GS,TS Trịnh Thị Diệu Thường, Cục trưởng Cục Quản lý Y Dược cổ truyền trình bày sơ lược dự thảo Chiến lược quốc gia phát triển nền y học cổ truyền Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 tại hội thảo chiều 9/9. Ảnh: Trần Minh
Chiến lược hướng tới phát triển đồng bộ hệ sinh thái y học cổ truyền, bao gồm nghiên cứu khoa học, đào tạo nhân lực, phát triển dược liệu và thuốc cổ truyền, khám chữa bệnh, công nghệ, chuyển đổi số, bảo tồn tri thức và phát triển thị trường.
Đến năm 2030, mục tiêu đặt ra là 100% bệnh viện lão khoa, khoa lão có tích hợp y học cổ truyền trong chăm sóc, phục hồi chức năng cho người cao tuổi; 100% trạm y tế cấp xã đủ năng lực cung ứng dịch vụ y học cổ truyền.
90% Bệnh viện y học cổ truyền các tỉnh, thành phố có quy mô giường bệnh đạt tối thiểu 300 giường bệnh/bệnh viện. Mỗi vùng kinh tế xã hội có ít nhất một bệnh viện cấp chuyên sâu về y học cổ truyền; 100% bệnh viện lão khoa, khoa lão có tích hợp y học cổ truyền trong chăm sóc, phục hồi chức năng người cao tuổi.
Tỷ lệ khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền và kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại cũng được đặt mục tiêu tăng lên, tương ứng 15% ở cấp chuyên sâu, 25% ở cấp cơ bản và 40% ở cấp ban đầu; 100% Trạm y tế cấp xã đủ năng lực cung ứng dịch vụ y học cổ truyền;
Cùng đó tỷ lệ chi trả bảo hiểm y tế cho dịch vụ kỹ thuật y học cổ truyền, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền tăng tối thiểu gấp 2 lần so với giai đoạn trước 2025;
Chiến lược đồng thời đặt yêu cầu xây dựng và chuẩn hóa các hướng dẫn chuyên môn, quy trình kỹ thuật bằng y học cổ truyền kết hợp y học hiện đại để áp dụng thống nhất trên toàn quốc.
Định hướng đến năm 2045 là y học cổ truyền Việt Nam phát triển toàn diện, hiện đại, hội nhập quốc tế, đậm đà bản sắc dân tộc, tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Hệ sinh thái y học cổ truyền quốc gia vận hành đồng bộ, hiệu quả trên nền tảng khoa học công nghệ, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao. Kết hợp chặt chẽ y học cổ truyền với y học hiện đại trở thành phương thức chăm sóc sức khỏe phổ biến, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe toàn diện, ngày càng cao của nhân dân. Công nghiệp dược liệu trở thành ngành kinh tế có giá trị tăng cao, có năng lực cạnh tranh quốc tế.
Phát triển dược liệu thành ngành kinh tế chiến lược
Dược liệu được xác định là một trong những trụ cột quan trọng để phát triển y, dược cổ truyền. Tại dự thảo Chiến lược này, Bộ Y tế không chỉ đặt mục tiêu tăng nguồn cung dược liệu mà hướng tới thay đổi căn bản cách tiếp cận, từ phát triển vùng trồng đơn thuần sang xây dựng chuỗi giá trị hoàn chỉnh, từ giống, vùng nguyên liệu, nuôi trồng, thu hái, sơ chế, bảo quản đến chế biến sâu, sản xuất và tiêu thụ.
Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu tự chủ tối thiểu 20% nhu cầu dược liệu sử dụng trong nước, giảm nhanh sự phụ thuộc vào nguồn dược liệu nhập khẩu và tăng xuất khẩu. Giá trị sản xuất công nghiệp dược liệu, thuốc cổ truyền và thuốc dược liệu phấn đấu tăng tối thiểu 10% mỗi năm; kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm này cũng tăng bình quân tối thiểu 10%/năm.
Đáng chú ý, trọng tâm sẽ được chuyển từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Để thực hiện mục tiêu này, Chiến lược đề ra việc điều tra, đánh giá, thu thập và bảo tồn nguồn gen, giống của các loài dược liệu quý, đặc hữu, giống bản địa, nhất là những nguồn gen có nguy cơ suy giảm, mai một. Cùng với đó là phân vùng tiềm năng phát triển dược liệu, xác định danh mục dược liệu ưu tiên, tập trung vào các loài có giá trị y tế, kinh tế cao và lợi thế cạnh tranh của Việt Nam.
Các vùng trồng dược liệu sẽ được phát triển theo tiêu chuẩn thực hành tốt nuôi trồng, thu hái hoặc khai thác dược liệu tự nhiên (GACP), gắn với sơ chế, bảo quản, chế biến sâu và truy xuất nguồn gốc.
Đặc biệt, chiến lược ưu tiên phát triển vùng dược liệu tại khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, gắn phát triển dược liệu với bảo tồn tri thức bản địa, tạo sinh kế và giảm nghèo bền vững.
Một yêu cầu quan trọng khác là hình thành liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, người dân và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, qua đó tạo các mô hình sản xuất - chế biến - tiêu thụ bền vững.
Các nhà máy chế biến, chiết xuất, tinh chế, bào chế, sản xuất dược liệu, thuốc cổ truyền và thuốc dược liệu đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế (GMP) sẽ được khuyến khích đầu tư, tiến tới hình thành các cụm, trung tâm công nghiệp dược liệu.

Quang cảnh hội thảo. Ảnh: Trần Minh
Truy xuất nguồn gốc, nâng chuẩn chất lượng sản phẩm
Cùng với phát triển sản xuất, Chiến lược đặc biệt coi trọng kiểm soát chất lượng dược liệu và sản phẩm từ dược liệu.
Hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chí đánh giá chất lượng đối với dược liệu, thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu sẽ tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện.
Một trong những nhiệm vụ đáng chú ý là xây dựng mã định danh sản phẩm đối với dược liệu, vị thuốc cổ truyền, thuốc cổ truyền và thuốc dược liệu tại vùng trồng, kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc.
Điều này không chỉ phục vụ quản lý mà còn tạo nền tảng để sản phẩm y, dược cổ truyền Việt Nam đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế.
Chiến lược cũng đặt mục tiêu xây dựng thương hiệu quốc gia đối với 30 sản phẩm từ dược liệu và thuốc cổ truyền và 10 dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh vào năm 2030.
Nếu dược liệu là một trụ cột về nguồn nguyên liệu thì khoa học công nghệ được xác định là nền tảng để chuẩn hóa và hiện đại hóa y học cổ truyền.
Chiến lược đặt mục tiêu củng cố, xây dựng và phát triển các trung tâm thử nghiệm lâm sàng theo tiêu chuẩn thực hành tốt thử nghiệm lâm sàng (GCP), tiến tới hình thành hệ thống thử nghiệm lâm sàng đạt tiêu chuẩn khu vực châu Á.
Các nghiên cứu sẽ tập trung vào phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc an toàn, hiệu quả; đánh giá tính an toàn, hiệu quả của thuốc cổ truyền; nghiên cứu việc kết hợp thuốc cổ truyền với thuốc hóa dược theo từng giai đoạn bệnh; đồng thời nghiên cứu, chuẩn hóa những bài thuốc dân gian, bài thuốc kinh nghiệm có giá trị trong điều trị.
Công nghệ sinh học, công nghệ gen, công nghệ nano, công nghệ chiết xuất và các giải pháp đổi mới sáng tạo cũng được định hướng ứng dụng trong bảo tồn, phục tráng, lai tạo, nhân giống dược liệu; phát hiện hoạt chất, phân tích thành phần, bào chế và sản xuất các sản phẩm chất lượng cao.
Đặc biệt, chiến lược thúc đẩy hợp tác giữa bệnh viện, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm.
Công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các công nghệ phân tích hiện đại sẽ được ứng dụng trong nghiên cứu y, dược cổ truyền, góp phần hình thành nền tảng dữ liệu phục vụ quản lý, nghiên cứu và phát triển.
Số hóa 70% tri thức y học cổ truyền
Bảo tồn tri thức là một nội dung quan trọng trong dự thảo Chiến lược, bởi một bộ phận tri thức y học cổ truyền đang được lưu giữ trong sách cổ, tài liệu chuyên môn, các bài thuốc, phương pháp điều trị, kinh nghiệm dân gian và cộng đồng.
Dự thảo đề ra mục tiêu đến năm 2030, số hóa tối thiểu 70% tri thức y học cổ truyền Việt Nam; ít nhất 30 bài thuốc, phương pháp điều trị hoặc tri thức truyền thống được nghiên cứu, chuẩn hóa và ứng dụng trong chăm sóc sức khỏe hoặc phát triển sản phẩm.
Việc bảo tồn sẽ tập trung cả vào tri thức của các danh y, lương y, người có bài thuốc gia truyền, phương pháp chữa bệnh gia truyền và cộng đồng dân tộc thiểu số.
Tuy nhiên, bảo tồn không dừng ở việc lưu giữ. Các tri thức có giá trị sẽ được nghiên cứu, đánh giá, chuẩn hóa để có thể trở thành tài liệu chuyên môn, nội dung đào tạo hoặc quy trình ứng dụng phù hợp trong khám bệnh, chữa bệnh.
Chiến lược đồng thời gắn bảo tồn tri thức với bảo vệ bản sắc văn hóa, đa dạng sinh học, phát triển kinh tế, du lịch và sinh kế bền vững.
Phát triển nhân lực, mở rộng đào tạo
Nguồn nhân lực chất lượng cao được xác định là yếu tố quyết định chất lượng và khả năng phát triển lâu dài của y học cổ truyền. Mục tiêu đến năm 2030 là phấn đấu đạt 3 bác sĩ y học cổ truyền/10.000 dân, trong đó tối thiểu 30% có trình độ sau đại học.
100% trạm y tế cấp xã có ít nhất một cán bộ được đào tạo về y học cổ truyền; 65% trạm y tế cấp xã có bác sĩ hoặc y sĩ y học cổ truyền.
Không chỉ đào tạo nhân lực chuyên ngành, Chiến lược còn đặt mục tiêu 100% chương trình đào tạo đại học khối ngành sức khỏe có nội dung về y học cổ truyền với thời lượng tối thiểu 5% tổng số tín chỉ.
Cách tiếp cận này nhằm tăng hiểu biết và khả năng phối hợp giữa y học cổ truyền với y học hiện đại ngay từ quá trình đào tạo, tạo nền tảng cho mô hình điều trị kết hợp dựa trên bằng chứng khoa học.
Xây dựng thương hiệu quốc gia về y học cổ truyền Việt Nam
Chiến lược xác định phát triển y học cổ truyền không chỉ nhằm phục vụ chăm sóc sức khỏe mà còn có thể trở thành một bộ phận của kinh tế sức khỏe, du lịch y tế và sức mạnh mềm quốc gia. Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sẽ được gắn với xây dựng thương hiệu đối với dược liệu, thuốc cổ truyền và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe từ dược liệu Việt Nam.
Doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được hỗ trợ phát triển sản phẩm, hoàn thiện tiêu chuẩn chất lượng, đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và đưa sản phẩm ra thị trường.
Chiến lược cũng định hướng hình thành hệ thống chợ đầu mối, làng nghề kinh doanh vị thuốc cổ truyền, dược liệu và tiến tới xây dựng sàn thương mại điện tử kinh doanh sản phẩm, dịch vụ y học cổ truyền gắn với truy xuất nguồn gốc.
Đồng thời, Việt Nam sẽ tăng cường xúc tiến thương mại, tham gia các diễn đàn quốc tế, mở rộng hợp tác với các quốc gia có nền y học cổ truyền phát triển, quảng bá hình ảnh và giá trị y học cổ truyền Việt Nam ra thế giới.
Một hướng đi mới là xây dựng các dòng sản phẩm, dịch vụ chăm sóc sức khỏe bằng y, dược cổ truyền phục vụ khách du lịch, kết hợp với khai thác, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tri thức bản địa.
Đến năm 2030, mục tiêu là hình thành 5 dòng cung ứng dịch vụ, sản phẩm chăm sóc sức khỏe bằng y, dược cổ truyền phục vụ khách du lịch mang tính hệ thống và định vị các dòng sản phẩm, dịch vụ này trong hệ thống du lịch Việt Nam.

Dự thảo Chiến lược đề ra mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu tự chủ tối thiểu 20% nhu cầu dược liệu sử dụng trong nước. Ảnh: Thái Bình
Đẩy mạnh thanh kiểm tra, kiểm soát chất lượng dược liệu, thuốc cổ truyền, hoạt động hành nghề, quảng cáo
Để các mục tiêu trên có cơ sở thực hiện, Chiến lược đặt nhiệm vụ đầu tiên là rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định pháp luật về y học cổ truyền, tạo lập cơ sở pháp lý phù hợp với đặc thù phát triển của lĩnh vực này.
Đáng chú ý, Chiến lược xác định nhiệm vụ xây dựng Luật Y học cổ truyền, trình Quốc hội theo chương trình lập pháp của Quốc hội.
Cùng với đó là nghiên cứu cơ chế, chính sách đặc thù để khuyến khích xã hội hóa, thu hút đầu tư, thúc đẩy hợp tác công tư trong phát triển hệ thống khám chữa bệnh, công nghiệp dược liệu và thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu sản xuất trong nước.
Bên cạnh phát triển, công tác tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng về y học cổ truyền; thanh tra, kiểm tra, giám sát cũng được tăng cường nhằm kiểm soát chất lượng dịch vụ, dược liệu, thuốc cổ truyền, hoạt động hành nghề, quảng cáo và lưu hành sản phẩm; xử lý nghiêm các hành vi sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng và hành nghề trái phép.
