Điều này chứng tỏ ông vẫn chưa quên gốc Việt, khiến tôi rất cảm động. Ông sống ở Bretagne, gọi là tỉnh hay xứ cũng được, như ta nói xứ Nghệ, xứ Thanh. Cũng là dịp chúng tôi trò chuyện về mảnh đất miền Tây nước Pháp trông ra Đại Tây Dương này.
Tôi biết đến xứ Bretagne vào năm 14 - 15 tuổi khi học Trường Bưởi, thầy cho đọc cuốn tiểu thuyết Dân chài Islande của P.Loti. Thương biết mấy số phận cô gái Gand, đợi mãi mới lấy được chồng, để rồi cưới xong, lại mòn mỏi đợi người chồng ra khơi không trở về. Đến khi học Ban Tú tài, tôi lại say mê đọc huyền thoại về Tristan và Iseult do J.Bédier kể lại một câu chuyện tình định mệnh, bi ai.
Bretagne là xứ sở của thơ mộng và huyền thoại: bờ biển rất ngoạn mục, nhiều bãi cát vàng và bến cảng đánh cá xen núi đá, cũng là nơi buôn bán và cái nôi của nhiều nền văn hoá cổ xưa, còn để lại những đài bằng đá và mộ đá hùng vĩ. Bà bạn tôi, nhà văn Yveline Féray, người xứ Bretagne đã làm một kỳ tích văn chương: bà bỏ ra hai chục năm để viết hai cuốn tiểu thuyết lịch sử về Việt Nam: Vạn Xuân (về Nguyễn Trãi và Lê Lợi, 800 trang) và Ông Lười biếng (về Hải Thượng Lãn Ông). Bà viết cho tôi một lá thư dài kể về quê hương bà:
“… Xứ sở của tôi là đất gay gắt, khắc nghiệt, toàn đá gra-nit, bị gió quật, bị bão táp nạo vét, nhiều ngày bị chìm trong sương mù. Thành phố của tôi là Saint Malo trên đỉnh núi đá có lũy bao bọc, đó là thành phố của tướng thủy quân Duy-gay T’roanh, của nhà hàng hải Cartier, của nhà văn tiền lãng mạn Chateaubriand… Do một định mệnh trớ trêu, tôi luôn phải sống xa quê, trừ mùa hạ. Khi còn nhỏ, mỗi lần tôi rời Paris để về quê, những cây dương xỉ bên đường hát những khúc ca của Bach, không có tình người nào làm cho tim tôi đập mạnh hơn là khi tôi gặp gỡ lại quê hương. Trong tâm hồn tôi, những hòn đảo đá cũng nhô lên, những con hải âu kêu như những cô hồn đau khổ. Như nhiều người dân Bretagne, hình như tôi có hai xứ Bretagne gắn với nhau rất chặt, một khoảng không gian thực, đã thay đổi với thời gian, là xứ Bretagne của lịch sử. Còn khoảng không gian huyền thoại, giấc mơ lớn của dân tộc Celtes được nuôi dưỡng bởi những truyền thuyết về nàng tiên Morgane, nàng Tiên cá, khu rừng Brocéliande, pháp sư Merlin, những yêu ma trong đêm tối… tất cả những cái mà các nhà xã hội học gọi là cái bất biến của văn hoá chìm đắm trong những thời buổi xa xưa.
Xứ Bretagne huyền thoại, dưới dạng một phụ nữ như bà tôi, người đã dạy tôi câu chữ, sự trìu mến và mơ mộng. Bà thường kể chuyện cho tôi một cách say mê. Ở bà, đúc kết cả tình gia tộc với quê hương. Tôi thường ước ao đến lúc phải chết, tôi được chết ở nhà bà tôi.
Vì đối với tộc Celtes chúng tôi, chết chỉ là quãng giữa của cuộc đời dài, chết rồi sẽ hồi sinh!
Xin được trở lại cuộc gặp vợ chồng kỹ sư Kha Tiến Đức. Khi từ biệt, ông bà tặng tôi cuốn Xứ Đất và Biển (tục ngữ xứ Bretagne). Cuốn sách này khổ to, gồm 400 trang, một trang ảnh lại đối diện một trang tục ngữ (thổ ngữ gốc và dịch sang tiếng Pháp). Tác phẩm này giúp ta khám phá tâm hồn dân xứ Bretagne tự nghìn xưa. Tại sao lại gọi là xứ Đất và Biển? Vì sinh hoạt xứ này có hai bộ mặt: Vùng Đất (xưa toàn rừng) sau chuyển sang trồng rau, hoa quả, nuôi bò sữa rồi công nghiệp hóa, chế biến nông sản, cơ khí, xây dựng. Vùng Biển: gồm các hoạt động hàng hải, đánh cá, du lịch. Tục ngữ Bretagne có nhiều điểm giống Việt Nam, có âm điệu, có vần. Nhiều khi chỉ vì vần mà đặt ra câu làm trò cười, không cần nghĩa. Thường là đúc kết kinh nghiệm cuộc sống, thích giễu cợt. Tục ngữ Việt chê sư hổ mang: Ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói dối thì tục ngữ Bretagne chế ông cố đạo đánh chén no say, giấu thức ăn vào áo lễ rồi lên ghế cao dạy con chiên: Hỡi các con nam nữ ngoan đạo/Hãy nhìn cái bụng ta mà ăn chay hối lỗi (tục ngữ). Về chuyện nam nữ, tục ngữ ta đùa: Lẳng lơ thì cũng chẳng mòn/Chính chuyên cũng chẳng sơn son để thờ!
Người Bretagne nói gọn hơn: Vú đàn bà, quà đàn ông.
Còn nói tục thì hình như dân tộc nào cũng thích, thể hiện nhiều nhất trên ca dao, tục ngữ, đó là ngôn ngữ của giới bình dân!
Hữu Ngọc