Xác định ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc

Thông tin dược học
Hiện nay, nhiều cơ sở y tế tại các địa phương điều trị bệnh sốt rét với các loại thuốc đặc hiệu được Bộ Y tế quy định trong phác đồ nhưng có một số trường hợp không đáp ứng.
Hiện nay, nhiều cơ sở y tế tại các địa phương điều trị bệnh sốt rét với các loại thuốc đặc hiệu được Bộ Y tế quy định trong phác đồ nhưng có một số trường hợp không đáp ứng. Do gặp một số hiện tượng này nên bác sĩ điều trị có thể vội kết luận là ký sinh trùng sốt rét đã kháng thuốc. Cần xác định phân biệt vấn đề này rõ ràng.
 
Trước khi kết luận một chủng loại ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc, cần loại bỏ các yếu tố như người bệnh uống thuốc không đủ liều, không đúng khoảng cách; thuốc uống được hấp thu và chuyển hóa không tốt; trình độ miễn dịch đối với sốt rét của bệnh nhân cao hay thấp hoặc chưa có miễn dịch. Đồng thời nên xem xét yếu tố di truyền với sự đáp ứng tự nhiên của cơ thể, loại acetyl hóa nhanh hay chậm. Ngoài ra, cũng cần đánh giá độ nhạy cảm nguyên thủy của chủng loại ký sinh trùng sốt rét với thuốc điều trị.
 Vòng đời của ký sinh trùng sốt rét.

Trên thực tế, cần phân biệt ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc với điều trị thất bại do thuốc như uống thuốc không đủ liều, không đúng khoảng cách; thuốc được hấp thu và chuyển hóa không tốt. Ở vùng sốt rét lưu hành thường khó đánh giá hiện tượng ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc vì trên thể trạng bệnh nhân bị sốt rét lâu năm đã có tính miễn dịch với sốt rét nên có khi không cần điều trị bằng thuốc, cơn sốt rét tự nhiên sẽ hết.

Như vậy, để có cơ sở để đánh giá hiệu lực điều trị; ngoài yếu tố ký sinh trùng sốt rét nhạy cảm hay kháng lại với thuốc điều trị; chúng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như liều lượng thuốc dùng, độ hấp thu của thuốc, sự đáp ứng miễn dịch của cơ thể, yếu tố di truyền của người bệnh. Vì vậy không nên vội vàng kết luận ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc khi chỉ dựa vào một vài trường hợp bệnh nhân điều trị thất bại.

Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh sốt rét đã được Bộ Y tế ban hành, việc xác định điều trị thất bại sớm hay thất bại muộn cần căn cứ vào các biểu hiện ghi nhận.

Điều trị thất bại sớm được xác định khi người bệnh có một trong các biểu hiện như: (1) Phát triển các dấu hiệu nguy hiểm hoặc sốt rét nặng vào ngày D1, D2 hoặc D3 sau điều trị; kèm theo có ký sinh trùng sốt rét. (2) Mật độ ký sinh trùng sốt rét ngày D2 cao hơn ngày D0 ngay cả khi bệnh nhân không sốt. (3) Còn ký sinh trùng vào ngày D3 và nhiệt độ đo ở nách ≥ 37,5oC. (4) Mật độ ký sinh trùng ngày D3 ≥ 25% mật độ ký sinh trùng ngày D0. 

Điều trị thất bại muộn được xác định khi người bệnh xuất hiện sốt trở lại và hoặc có ký sinh trùng sốt rét từ ngày thứ 4 (D4) đến ngày 28 (D28) sau điều trị.

Bệnh nhân chỉ được xác định điều trị khỏi hay điều trị có đáp ứng khi người bệnh hết các triệu chứng lâm sàng, sạch ký sinh trùng sốt rét sau 3 ngày điều trị (D3) và không còn ký sinh trùng sốt rét trong suốt thời gian điều trị cho đến ngày thứ 28 (D28). Nếu kết quả xét nghiệm chỉ có thể giao bào của ký sinh trùng mà bệnh nhân không sốt thì không phải điều trị thất bại; trường hợp này cần dùng thuốc primaquine để diệt giao bào chống lây lan.

Tóm lại, để đánh giá hiện tượng ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc gây nên việc điều trị thất bại; các cơ sở y tế cần loại bỏ các yếu tố làm ảnh hưởng đã nêu ở trên. Nên thận trọng để phân biệt ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc khi gặp một số trường hợp điều trị thất bại mà chưa xác định rõ ràng.

TTƯT. BS. Nguyễn Võ Hinh

Ý kiến của bạn