Không ai phản bác vai trò của thủy điện trong đời sống xã hội, thậm chí có thể coi đó là xương sống của sự phát triển đất nước. Từ đầu thế kỷ trước, khi mới giành được chính quyền, Lênin đã thấy được tầm quan trọng của điện khí hóa toàn quốc. Nước ta có thế mạnh về thủy điện và việc phát triển thủy điện là một xu thế tất yếu.
Thế nhưng phát triển thủy điện không theo một quy hoạch tổng thể với sự cân đối những lợi ích khác sẽ là lợi bất cập hại. Khi đất nước còn nghèo và trong mọi lĩnh vực cần xã hội hóa là một nhu cầu tất yếu bởi Nhà nước không thể gánh mọi việc mà cần để mọi thành phần khác trong xã hội gánh cùng, chia sẻ cùng để Nhà nước, nhà đầu tư và nhà nhà đều có lợi. Tuy nhiên, “xã hội hóa” thủy điện lại là điều cần bàn.
Khi xã hội hóa thủy điện là động viên các nhà đầu tư để huy động vốn làm một công trình có ích. Ai cũng hiểu điều này, song nhà đầu tư bỏ vốn làm bất cứ công trình nào trước hết cũng phải nhìn thấy cái lợi. Không lợi, ai dám đầu tư. Thủy điện của chúng ta ngoài Tập đoàn Điện lực cũng không thiếu những công ty khác lao vào. Cái lãi đầu tiên cho nhà đầu tư là gỗ rừng được thu hoạch đồng nghĩa với môi trường bị tàn phá. Thủy điện không ở đồng bằng nên ngoài diện tích rừng bị chiếm dụng để thành đập, thành diện tích lòng hồ tích nước còn là đường đến công trình thủy điện. Dân trong vùng bị di dời nơi khác để xây công trình thủy điện tất nhiên cũng không di về thành phố mà “nơi khác” ở đây vẫn là vùng rừng núi. Thế là để có diện tích cho dân định canh định cư, rừng lại bị đốn để có đất làm nhà, làm đường, làm nương rẫy. Sơ sơ tính việc khai thác gỗ trên 3 diện tích vừa nêu (công trình thủy điện, đường đến công trình, diện tích định canh định cư) cũng thấy được cái lợi nhãn tiền cho nhà đầu tư, chả trách sao nhiều cơ quan, tổ chức thích tham gia “xã hội hóa” thủy điện đến thế! Thậm chí đến rừng quốc gia cũng có những dự án làm thủy điện.
Khi xã hội hóa thủy điện thì nhà đầu tư phải tích nước vào mùa hè. Tích nước thì hạ nguồn thiếu nước tưới tiêu phải dùng máy bơm để bơm nước tạo thành vòng luẩn quẩn: sông cạn vì thủy điện - thủy điện làm ra điện để dân chạy máy bơm tưới tiêu do sông cạn. Thế nhưng vòng luẩn quẩn này không ảnh hưởng tới nhà đầu tư, chỉ có dân mất thêm tiền mua điện mà điện lại luôn muốn tăng giá. Ấy là chưa kể nước bị tích trong hồ, sông cạn thì cá tôm, thủy sản cũng giảm rồi dân hạ lưu cũng phải gánh mọi thiệt thòi. Đến mùa mưa lũ, dân càng khổ hơn vì để bảo vệ đập, nước đã nhiều đập lại xả lũ nên lụt lội xảy ra, tàn phá hoa màu và cơ sở hạ tầng dưới hạ lưu. Rồi Nhà nước lại phải cứu trợ!
Ngay đến quyền lợi của Tập đoàn Điện lực với dăm bảy ngàn tỷ đồng bỏ ra xây đập Thủy điện Sông Tranh 2 cũng gây tốn kém không ít tiền bạc và thời gian cho việc hội thảo, kiểm tra để có quyết định tích nước hay không khi động đất xảy ra liên tiếp mặc cho dân sống trong sợ hãi suốt thời gian qua nói gì đến các chủ đầu tư “xã hội hóa” thủy điện.
Không thể làm thủy điện bừa bãi, thiếu tính toán làm mất cân bằng môi trường tự nhiên, đảo lộn cuộc sống người dân, thậm chí có thể gây tai họa cho dân vùng hạ lưu đập thủy điện nếu tính toán sai lầm. Thủy điện là cần, song phát triển thủy điện cần thận trọng để bảo đảm sự hài hòa của các mối quan hệ giữa thủy điện với thiên nhiên, với đời sống xã hội, với sự cân bằng môi trường sinh thái. Việc “xã hội hóa” thủy điện thiết nghĩ nên chấm dứt bởi các nhà đầu tư “xã hội hóa” có thể làm thủy điện không hẳn vì thủy điện mà vì khai thác gỗ quý, vì lợi nhuận mà quên cuộc sống nhân dân. Nên chăng còn cần phải luật hóa thủy điện với những quy định về điều kiện, trách nhiệm, chế tài đối với những chủ đầu tư xây dựng thủy điện bởi mục đích của thủy điện là phục vụ dân thì quyền lợi của dân phải được đặt lên trên hết.
Lê Đức Trí