Là một vùng đất thuộc Kinh Bắc xưa, Bắc Giang có một kho tàng di sản rất phong phú và độc đáo với các di tích lịch sử - văn hóa lâu đời và nhiều loại hình di sản phi vật thể như lễ hội, làng nghề, dân ca, phong tục... Nằm giữa các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Ninh, Quảng Ninh và gần Thủ đô Hà Nội luôn sôi nổi các hoạt động văn hóa thương mại và du lịch, vậy nhưng kho tàng di sản to lớn của Bắc Giang gần như chưa được biết đến.
Vùng đất cổ dày đặc di sản...
Theo thống kê mới nhất, trên toàn tỉnh Bắc Giang hiện có 1.316 di tích các loại, trong đó 76 di tích xếp hạng cấp quốc gia, 40 di tích do UBND tỉnh công nhận. Các di tích, di sản ở đây có đủ loại: di tích lịch sử, di tích cách mạng, di tích tự nhiên; di sản vật thể, di sản phi vật thể... gắn với các thời kỳ lịch sử khác nhau từ thời tiền sử, phong kiến cho đến kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Đặc biệt, có nhiều di tích, di sản được đại diện tiêu biểu cho văn hóa, lịch sử của dân tộc ở thời kỳ mà nó ra đời. Có thể kể đến trống đồng Bắc Lý (Hiệp Hòa) tiêu biểu cho giai đoạn Đông Sơn; chùa Vĩnh Nghiêm (Yên Dũng) - gắn với lịch sử Thiền phái Trúc Lâm đời Trần; đình Lỗ Hạnh (Hiệp Hòa) từng được mệnh danh là “đệ nhất Kinh Bắc” với những nét điêu khắc rồng tiêu biểu cho kiến trúc thời Lê - Mạc; cụm đình - chùa Thổ Hà (Việt Yên), đình Cao Thượng (Tân Yên), đình Hà Mỹ (Lục Nam)... là những ngôi đình cổ có giá trị kiến trúc nghệ thuật và lịch sử vào loại bậc nhất; lăng Dinh Hương (Hiệp Hòa) - công trình kiến trúc đá cổ độc đáo còn khá nguyên vẹn, tiêu biểu nhất trong những lăng đá cổ thời Lê còn lại trên đất nước ta...; ca trù, quan họ bờ Bắc sông Cầu; những làng nghề truyền thống (gốm Thổ Hà, rượu Vân Hà, bánh đa Kế...) và hơn 500 lễ hội mỗi năm (lễ hội Thổ Hà, lễ hội bơi chải, hội hát soong hao, hội chùa Đức La...). Tất cả cho thấy đời sống tinh thần vô cùng phong phú của người Bắc Giang xưa, vẫn được gìn giữ đến ngày nay, đồng thời cũng cho thấy giá trị văn hoá đậm nét của vùng đất cổ này.
Đang bị lãng quên
Thế nhưng có một thực tế đáng buồn là hiện nay, hầu hết các di tích, di sản ở nơi này đều ít được biết đến. Điều đó cho thấy phần nào sự hạn chế trong công tác giới thiệu, phát huy di tích, di sản của ngành văn hóa - thông tin tỉnh và sự yếu kém của ngành thương mại du lịch. Hạn chế đó dẫn đến một hệ quả là nhiều di tích bị hư hỏng, mất mát mà không được kịp thời khắc phục, thậm chí bị lãng quên; nhiều di sản văn hoá phi vật thể bị mai một.
Trong nhiều năm qua, hàng loạt vụ mất cắp ở các chùa Bắc Giang đã xảy ra cho thấy một thực trạng đáng buồn là các di tích, di sản luôn trong tình trạng bị nhòm ngó, rình rập. Ầm ĩ nhất là vụ mất cắp đồ cổ ở chùa Vĩnh Nghiêm (Yên Dũng). Ngôi chùa này được xây dựng từ thế kỷ XIII, là trung tâm Phật giáo lớn thuộc dòng Trúc Lâm, nơi đào tạo tăng đồ cho cả nước do vua Trần Nhân Tông sáng lập. Nơi đây còn lưu bộ Mộc thư khố có niên đại sớm nhất trong số mộc thư còn lưu giữ ở nước ta với 34 đầu sách, khoảng 3.000 bản khắc âm bản với khoảng 2.000 chữ Nôm hoặc Hán. Có giá trị lịch sử văn hoá lớn như vậy nhưng ngôi chùa vẫn vắng bóng khách thập phương. Nhiều đình, chùa khác cũng trong tình trạng vắng khách tham quan và ngay cả những người trông coi cũng không buồn dọn dẹp, giữ gìn. Chùa Bổ Đà được xây dựng từ thời nhà Lý - thế kỷ XI (Theo Non nước Việt Nam - phần Bắc Giang, NXB Hà Nội, 2005), có bộ kinh Phật cổ khắc trên gỗ độc đáo và quý giá gồm 4 tập sách kinh với 240 tấm ván gỗ hợp thành. Mặc dù vậy, kho lưu giữ bộ kinh quý giá này lại quá đơn sơ, không có cả cửa (mưa có thể hắt vào đến các giá đựng kinh), bị một lớp bụi phủ dày, mạng nhện giăng đầy. Có di tích còn hư hỏng nặng, gần như bị lãng quên hoặc bị xâm hại nghiêm trọng như chùa Hồ Thiên (Lục Nam) được xây dựng từ đời Trần bị bỏ quên trong rừng rậm, gần đây mới được tìm thấy. Lăng Dinh Hương (Hiệp Hòa) thành chỗ vui chơi, chăn thả trâu bò... Nhiều làng nghề truyền thống đang dần mai một như gốm Thổ Hà, rèn thép Đức Thắng, nhiều loại hình nghệ thuật dân gian đang dần mất đi (hát soong hao, quan họ Bắc Giang), các lễ hội ngày càng ít hơn... Tất cả là hồi chuông cảnh báo các di sản văn hóa này đang dần mất đi giá trị quý báu vốn có của nó.
Làm gì để bảo tồn, phát triển?
Trong những năm qua, tỉnh Bắc Giang cũng đã bước đầu thực hiện chủ trương xã hội hóa di tích, di sản của Nhà nước. Song việc thực hiện vẫn còn nhiều khó khăn do các di tích ở đây tuy mật độ khá dày nhưng không thành từng cụm và khả năng xã hội hóa của người dân còn thấp. Tỉnh cũng đã có nhiều chủ trương mà trọng tâm là đẩy mạnh xã hội hóa để bảo tồn các di sản đồng thời phát triển các tiềm năng du lịch như: giao di tích, di sản cho người dân trực tiếp quản lý, khai thác; xây dựng các điểm văn hóa di sản tiêu biểu; lập trang web giới thiệu về tổng thể các di sản Bắc Giang; xuất bản bộ sách Di sản Bắc Giang (đã xuất bản được 2 tập) để giới thiệu những di tích mới được phát hiện đồng thời cung cấp tư liệu về những di tích cũ đến giới nghiên cứu và truyền thông; kết hợp với các cấp, ngành ở Trung ương, Hà Nội và nhiều địa phương khác để quảng bá và phát triển du lịch...
Bắc Giang đang có lợi thế là nhiều di sản còn khá nguyên vẹn, mật độ các di sản lại dày; thêm nữa, nơi này gần Hà Nội, giáp điểm du lịch văn hóa Bắc Ninh, tiện đường xá phát triển du lịch. Để phát huy hơn nữa giá trị di sản văn hoá, ngành văn hóa - thông tin Bắc Giang cần phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa truyền thống - hiện đại, kinh tế - văn hóa, bảo tồn - phát triển, dân tộc - quốc tế, đẩy mạnh công tác xã hội hóa di tích, di sản; hỗ trợ nhân dân bằng hoạt động quảng bá, xây dựng quy hoạch tổng thể về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, đồng thời triển khai có hiệu quả những dự án phát huy di sản cụ thể, chú trọng đến tính nguyên gốc và tính toàn vẹn của di sản; thiết lập các hành trình di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh có thể kết hợp hành trình di sản văn hóa với các tỉnh lân cận và các khu du lịch sinh thái Suối Mỡ - Lục Nam, Khe Rỗ - Sơn Động, Yên Tử, vùng vải thiều Lục Ngạn... Chỉ có đẩy mạnh công tác xã hội hóa kết hợp với phát triển du lịch, Bắc Giang mới có thể phát huy giá trị các di sản và bảo tồn chúng triệt để nhất.
Phạm Thành