Xuất phát từ Thủ đô Hà Nội và nơi dừng chân là mảnh đất huyện miền núi vùng biên tỉnh Thanh Hóa, tôi đi theo đường mòn Hồ Chí Minh mất gần nửa ngày. Nhưng vì tôi biết nơi vùng biên xứ Thanh còn mỗi ông là người biết làm và thổi khèn bè (dân tộc Thái) nên tôi đã vượt hơn 250km với đủ các cung đường từ bằng phẳng đến đồi núi, đèo dốc để đến gặp ông.
Gặp nghệ nhân trong đêm
Người tôi tìm gặp là nghệ nhân khèn bè Lữ Văn Vượng, năm nay 67 tuổi, sống ở bản Ngàm, xã Trung Thượng, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Vùng đất nơi nghệ nhân Vượng đang sinh sống cách cửa khẩu biên giới Na Mèo (đường biên Việt - Lào của tỉnh Thanh Hóa) khoảng 50km. Từ Hà Nội, hành trình đầu tiên của tôi là đi ra khỏi nội đô và hướng ra ngoại thành huyện Xuân Mai, sau đó cứ thẳng đường mòn Hồ Chí Minh ngang qua địa phận tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình sẽ tới đất Thanh Hóa để tới huyện Quan Sơn.

Những chiếc khèn bè do nghệ nhân Vượng tự làm.
Đến đất xứ Thanh ở đường mòn Hồ Chí Minh, cứ đi được chừng hơn chục cây số, qua một vài con dốc cao hoặc đến một ngã tư bất kỳ nào đó tôi lại tấp xe vào lề đường hỏi người dân để về Quan Sơn. “Chú cứ chạy xe theo Quốc lộ 217, khi nào thấy biển bên đường ghi huyện Quan Sơn là tới nơi” - anh Dũng, người dân tộc Mường ở huyện Lang Chánh nói với tôi như vậy.
“Đường ở miệng” - hỏi và đi mãi cuối cùng tôi cũng tới huyện Quan Sơn. Đường đi đến Quan Sơn có thể nói như trong câu thơ mà nhà thơ Quang Dũng đã viết trong Tây tiến: “...Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm/Heo hút cồn mây súng ngửi trời”. Bấy giờ đã là 8 giờ tối. Tôi tiếp tục hỏi về bản Ngàm, người dân bảo tôi đi tiếp 20km nữa sẽ tới nơi. Tôi ghé vào một quán bán xăng lẻ ven đường đổ đầy bình xăng, tiếp tục lao đi trong màn đêm tĩnh mịch đến gai người.
Đi đúng 20km, tôi dừng xe hỏi nhà ông Vượng. 9 giờ tối vùng biên, chỉ có ánh đèn điện yếu ớt hắt ra từ những ngôi nhà hai bên đường tỉnh lộ 217. Thật may mắn, có một người đàn ông ra khỏi nhà để đi đặt bẫy thú, sau khi nghe tôi hỏi nhà ông Vượng liền nói: “Ông Vượng khèn bè ở bên kia đường, cái nhà sàn trong cùng ấy”. Tôi vội nói lời cảm ơn người đàn ông tốt bụng và tiến tới ngôi nhà sàn, dưới chân cầu thang tôi gọi: “Ông Vượng ơi, bán cho tôi chiếc khèn bè!”. Trên nhà sàn có tiếng động lạch cạch, cánh cửa sổ quá đầu tôi được chống lên, người đàn ông tóc muối tiêu thò đầu ra nói: “Giờ còn mua bán gì nữa, anh lên nhà ngồi chơi”...
Không còn người thứ hai
Tiếng côn trùng kêu rả rích quanh ngôi nhà sàn đơn sơ. Nghệ nhân Vượng bật thêm bóng đèn điện cho không gian đủ sáng và pha ấm trà tiếp “khách ở đường xa”. Tôi hỏi ông Vượng về cách làm và cách thổi khèn bè - dụng cụ âm nhạc đặc trưng của người dân tộc Thái, nghệ nhân Vượng hút xong điếu thuốc lào, nhả khói qua ô cửa sổ, nói: “Trước đây, thời tôi còn bé, rất nhiều người thích và yêu khèn bè. Giờ thì hiếm lắm, tôi đố anh tìm được trong cả huyện, thậm chí cả tỉnh này có người thứ hai làm được khèn bè như tôi. Xưa còn thanh niên, tôi đi đâu cũng kẹp nách chiếc khèn bè, mỗi lúc làm mệt thì lấy khèn ra thổi để... hồi sức”.
Nghệ nhân Vượng cho biết thêm, khèn bè là một trong những nhạc cụ có vị trí quan trọng, chủ đạo và là biểu tượng độc đáo của nền âm nhạc dân tộc Thái, khèn bè người Thái có những âm thanh sóng đôi rất độc đáo. Mỗi khi tiếng khèn bè cất lên nghe rất da diết, sâu lắng như lời tâm tình yêu đương cháy bỏng của những đôi trai gái. Trong mỗi điệu nhạc của khèn bè cho thấy triết lý âm dương, sự sinh sôi phát triển của cuộc sống. Vì thế, việc làm khèn bè rất khó khăn và phức tạp, đòi hỏi sự khéo léo. “Tôi làm học khèn bè lúc 12 tuổi, học với ông cố trong gia đình của tôi, vừa học thổi và làm khèn bè. Chiếc khèn bè có 14 ống nứa tép được ghép lại thành từng đôi trên một bầu bằng gỗ, trên mỗi ống nứa tép dùi 12 lỗ bấm đối xứng và khoét các lỗ thoát hơi trên các ống nứa với các kích cỡ khác nhau ở các vị trí thích hợp” - nghệ nhân Vượng chia sẻ.

Nghệ nhân Vượng thổi khèn bè rất điêu luyện.
Các công đoạn làm khèn bè cũng rất mất thời gian và kỳ công. Theo nghệ nhân Vượng, để có được chiếc khèn bè, đầu tiên ông đi vào rừng tìm những cây nứa tép nhỏ bằng ngón tay, các ống nứa cũng phải bằng nhau, có độ mỏng vừa phải. Sau đó đem phơi khô, thường thì phơi ống nứa tép trong khoảng 7 ngày. Khi cây nứa khô rồi thì cắt ra, tùy theo đó rồi cắt dài ngắn khác nhau. Ống nứa càng to, tiếng khèn càng lớn. Để tạo ra các âm thanh trầm, bổng, người làm phải cắt các lá đồng mỏng, uốn khá công phu để khi thổi các lá đồng tạo nên âm thanh khác nhau. Tiếp theo làm một cái dùi sắt đem hơ lửa, sau đó dùi các lỗ, dùng sáp ong đen để gắn các ống nứa lại với nhau. Nghệ nhân Vượng nói: “Để làm ra một chiếc khèn bè, người làm phải khéo tay, kiên trì, cẩn thận. Với tôi, làm liên tục quên ăn quên ngủ thì một tháng được 6 đến 7 cái”. Vậy là, từ những khúc nứa vô tri vô giác nơi rừng sâu, qua bàn tay tài hoa của nghệ nhân Vượng bỗng trở nên có hồn, khi thổi ngân lên giai điệu thiết tha, quyến rũ. Và hiện nay, nghệ nhân Vượng vẫn làm khèn bè như một việc không thể thiếu, như “ăn cơm uống nước” hàng ngày. Ông cho biết thêm, nhiều người ở các địa phương khác ở tỉnh Sơn La, Lai Châu... hoặc hầu hết người dân tộc Thái trong tỉnh Thanh Hóa giờ đều đến đặt hàng ông mỗi khi cần, nhưng cả năm giỏi lắm ông bán được 20 - 30 cái khèn bè với giá cao nhất chỉ ba trăm ngàn đồng.
Và nỗi lo thất truyền
Vừa làm khèn bè, vừa thổi được khèn bè như nghệ nhân Vượng ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay không còn nhiều, như ông nói: “Cả tỉnh này chưa chắc có người thứ hai làm và thổi được khèn bè như tôi”. Cuộc sống hối hả và thay đổi từng ngày, giờ đây bản Ngàm - nơi nghệ nhân Vượng sinh sống cũng đã có nhiều sự khác biệt. Đời sống người dân vùng biên đã khấm khá hơn, đường sá cũng thuận lợi hơn trước rất nhiều. Cũng vì vậy, những yếu tố văn hóa tiên tiến và hiện đại theo đó về với quê hương nghệ nhân Lữ Văn Vượng.
Đêm đã dần về khuya, ông Vượng vẫn tiếp chuyện tôi như một người bạn tri âm đã xa nhau rất lâu giờ mới gặp lại. Ông Vượng nói rằng, trước đây vì thấy trong nhà, dù có đông anh em nhưng không ai học bố về việc làm và thổi khèn bè, nên ông sợ mất gốc, đã mày mò và bảo bố dạy lại. Việc làm khèn bè đã khó, muốn học thổi khèn bè cũng cần đầu tư thời gian và tâm sức. Theo ông Vượng, người muốn thổi được khèn bè “phải làm hư ít nhất một cái mới có thể thổi được, tốn khoảng thời gian 6 tháng hoặc 1 năm là chuyện thường”.
Nghệ nhân Vượng cũng đang lo không có ai nối gót để làm ra những chiếc khèn bè. Ông bảo, một số học trò đến học làm khèn bè từ ông đã “ra đi” trước ông. Nhiều người thích học làm khèn bè nhưng vì có tính nóng vội đã không học được vì khi làm khèn bè đòi hỏi sự kiên trì, kì công, kĩ càng. Nghệ nhân Vượng cũng muốn mở lớp dạy mọi người làm và thổi khèn bè, ai muốn về đây học thì học, ông sẵn lòng chỉ bảo, hoàn toàn miễn phí. Tuy nhiên, vì điều kiện kinh tế của ông không cho phép nên ông không thể hiện thực hóa điều mong mỏi ấy. “Tôi đang lo sau này nếu chết đi, không còn ai làm khèn bè nữa, rồi tất cả sẽ quên. Giờ còn độc đứa cháu nội theo học” - ông Vượng tâm sự.
Nghệ nhân Vượng cũng cho rằng, lớp trẻ bây giờ ít hoặc không dùng khèn bè nữa, ông bảo: “Chúng nó toàn thích nhạc múa may quay cuồng. Nghe khèn bè bây giờ chủ yếu là lớp người cao tuổi như chúng tôi hoặc trung niên”. Trong làng của nghệ nhân Vượng giờ chỉ còn một đến hai người biết thổi khèn bè và thường mỗi dịp hội hè, mọi người mới tham gia “độc tấu”. Mỗi lúc ấy nghe tiếng khèn, nhiều người hứng thú bước ra múa theo điệu nhạc.
Khèn bè có năm cung và một quãng tám nên có thể diễn tả được hầu hết các điệu dân ca, nhạc hiện đại và làm nền cho các điệu dân vũ và múa hiện đại. Nói xong, nghệ nhân Vượng cầm chiếc khèn bè ở bên cạnh thổi cho tôi nghe một vài đoạn nhạc dân ca của người dân tộc Thái thánh thót, dập dìu về tình yêu đôi lứa hay gọi bạn tình. Những âm thanh từ tiếng khèn bè của nghệ nhân Vượng lúc lúc rộn rã tươi vui, có khi lại bập bùng như ngọn lửa làm xao xuyến lòng người.
Nghệ nhân Vượng dừng lại, cuộc trò chuyện giữa tôi và ông chẳng hiểu sao rơi vào im lặng. Bỗng tôi nghe ông nói: “Giờ khuya rồi, chú đi ngủ và sáng mai dậy sớm mà về. Hay chú ở chơi vài ngày, tôi dạy làm khèn bè nối nghiệp tôi”...
Bài và ảnh: Phạm Quỳnh