(SKDS) - Tháng 2 năm 1968, chiến trường miền Nam ác liệt đang cần thêm những cây súng kiên cường, Đại đội Ngô Gia Tự 2 với 132 chiến sĩ toàn là giáo viên đã ra đời trong tình huống ấy. Nguyễn Quang Khuyên là một chiến sĩ trong đại đội ấy. Nhà xuất bản Hội Nhà văn đã chọn 65 bài trong hơn 200 bài nhật ký bằng thơ ghi từng ngày rõ ràng trong chiến trận của Nguyễn Quang Khuyên và cho in thành tập thơ mang tên Màu xanh đường 9.
ơi Đại đội Ngô Gia Tự 2 đứng chân là Gio Linh, Đầu Mầu, đường 9, Khe Sanh. Nguyễn Quang Khuyên cầm súng, song những phút giây thanh vắng, những đêm sâu, Khuyên lại cầm bút ghi nhật ký, điều đặc biệt của nhật ký Nguyễn Quang Khuyên là những bài thơ. Anh em đồng đội xúm lại, truyền tay nhau những bài thơ Khuyên vừa làm xong.
Trong gian khổ, tình đồng đội càng gắn bó với nhau tưởng như không có gì chia cắt được họ, Nguyễn Quang Khuyên đã xúc động ghi lại tình cảm ấy:
"Ở đây lính cán như nhau
Đều là đồng đội trước sau một lòng
Có giặc thì đánh đến cùng
Sẻ chia tình cảm vui chung chiến hào
Chia nhau từng điếu thuốc lào
Một nắm cơm nhỏ, một bao rau rừng" (Ở đây)
Đã là lính chiến trường, không ai quên cuộc sống nghiệt ngã sau Chiến dịch Mậu Thân. Đói có khi cả tuần chỉ có rau rừng. Tôi nhớ ở đơn vị tôi lúc ấy, Nguyễn Khoa Điềm viết thư về cho gia đình, một tuần sau mới có mấy hạt cơm để dán phong bì. Nguyễn Quang Khuyên nói chia nhau "một bao rau rừng" là đúng lắm.
Dù gian khổ mấy thì trên đầu người lính vẫn là bom đạn. Trong bài thơ Thư Quảng Trị, Nguyễn Quang Khuyên đã tả cảnh bom đạn này:
"Anh có biết không những trận đánh càn
Xe tăng thiết giáp, bom na pan
Ở đâu Mỹ cũng gây tang tóc
Rừng cháy, nhà thiêu, cây úa tàn"
(Thư Quảng Trị)
Có những trang nhật ký Nguyễn Quang Khuyên ghi rất cụ thể như đếm trên đầu ngón tay:
"Tháng chúng rải 2 lần chất độc
Theo con đường
Rải dọc 2 bên
Bom na pan dội xuống
Lửa bốc lên
Hai bên đường cỏ cây cháy xém
Chồi xanh không còn
Chỉ còn lại màu đen"
(Tìm màu xanh đường 9)
Mỹ ngụy tưởng bom đạn ấy sẽ khiến lính giải phóng không ngóc đầu dậy được, chỉ có chết. Nhưng không, những người lính vẫn ngoan cường. Nguyễn Quang Khuyên nhận ra rất rõ ý chí ấy trong nhật ký thơ của mình:
"Lại bom dội
Đào
Bom cháy
Đất nhảy
Hầm rung rung cát chảy xuống người
Mặt khói đen
Mồ hôi quyện đất đồi
Vẫn còn đó
Chốt... ngang trời... vững chãi"
(Chốt)
Trong nhật ký, Khuyên đã ghi kỹ càng tấm gương rực sáng của đồng đội, ngoan cường như một người anh hùng, như thành ngữ ngày ấy đã ghi: "Chết xanh cỏ, sống đỏ ngực", đó là tấm gương liệt sĩ Nguyễn Hữu Liên:
"Trận này nhiều bạn bị thương
Liên xin ở lại chặn đường địch lên
Đồng đội rút, một mình Liên
Chống trả quyết liệt, nhiều tên đi đời
Từ xa, Liên ngã xuống rồi
Đơn vị thương tiếc khóc người đồng hương" (Chia lửa)
Mỗi trang nhật ký của Khuyên là một bài thơ. Gian khổ ác liệt ấy, thơ Nguyễn Quang Khuyên vẫn dạt dào:
"Đánh giặc dù nắng dù mưa
Sớm trưa chiều tối không thua bao giờ
Vừa đánh giặc... vừa làm thơ
Vừa lên giữ chốt... vừa chờ đón xuân"
(Đón xuân)
Nguyễn Quang Hà