Virus Nipah không phải là căn bệnh mới xuất hiện, nhưng vẫn là một trong những mầm bệnh nguy hiểm mà y học hiện đại phải đối mặt. Với tỷ lệ tử vong cao, đường lây truyền phức tạp, biểu hiện lâm sàng không điển hình, chưa có vaccine và thuốc điều trị đặc hiệu, Nipah được giới chuyên môn xếp vào nhóm các tác nhân dịch bệnh có nguy cơ đe dọa an ninh y tế toàn cầu được giám sát chặt chẽ.
Nipah gây tử vong cao
Theo PGS.TS.BS Đỗ Duy Cường - Viện trưởng Viện Y học Nhiệt đới Bạch Mai, Bệnh viện Bạch Mai, Nipah thuộc loại virus gây bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhóm A được ghi nhận lần đầu tiên trong đợt bùng phát tại Malaysia và Singapore năm 1999 với 265 ca mắc và 105 ca tử vong (tỷ lệ tử vong là 40%). Bệnh này cũng được phát hiện ở Bangladesh vào năm 2001 và từ đó gần như hàng năm đều xảy ra các đợt bùng phát ở nước này. Bệnh cũng được xác định định kỳ ở miền đông Ấn Độ. Sau gần 30 năm, dù chưa từng bùng phát thành đại dịch lớn nhưng Nipah vẫn được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) xếp vào nhóm các mầm bệnh đặc biệt có nguy cơ gây khủng hoảng y tế.
"Nguy hiểm nhất của Nipah không nằm ở tốc độ lây lan mà nằm ở tỷ lệ tử vong. Mặc dù mức độ lây lan chậm nhưng tử vong do virus Nipah chiếm khá cao (khoảng 40-75%), tức là cứ 2 người mắc thì có 1 người tử vong, tương đương với cúm gia cầm và cao hơn các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác như tả, dịch hạch, COVID-19, viêm màng não do não mô cầu,... Tỷ lệ này có thể thay đổi tùy thuộc vào từng đợt bùng phát dịch, dựa trên năng lực giám sát dịch tễ học và quản lý lâm sàng tại địa phương" - PGS.TS.BS Đỗ Duy Cường nhấn mạnh.
"Nipah không dễ gây đại dịch vì đường lây khác với COVID-19 (lây lan chủ yếu qua đường hô hấp). Nipah lại có đặc tính lây lan chậm hơn. Hệ số lây nhiễm (R0) hiện được ghi nhận ở mức thấp (khoảng 0,3-0,7%), thấp hơn nhiều so với COVID-19. Tuy nhiên, virus là thực thể sinh học có khả năng biến đổi, hệ số lây nhiễm không phải là con số cố định" - PGS.TS Cường phân tích.

Dơi được xác định là vật chủ lây truyền virus Nipad (Ảnh theo WHO)
Một điểm đặc biệt đáng bận tâm khác là nguy cơ lây nhiễm cho nhân viên y tế. "Khi một bệnh vừa lây qua hô hấp, vừa lây qua tiếp xúc, dịch tiết, nguy cơ đối với nhân viên y tế là rất lớn. Nếu không có hệ thống bảo hộ và quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn chặt chẽ, chính lực lượng tuyến đầu cũng có thể trở thành nạn nhân" - PGS.TS Cường cảnh báo.
Ngoài ra, việc xét nghiệm Nipah đòi hỏi an toàn sinh học cấp cao (BSL-4) - mức cao nhất trong phân loại an toàn sinh học. Đây là điều mà nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam chưa có đầy đủ hạ tầng phòng thí nghiệm chuyên biệt.
Hiện nay Nipah chưa có vaccine phòng bệnh, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho cả người và động vật. Phương pháp điều trị chính chủ yếu là chăm sóc, hồi sức, điều trị triệu chứng, hỗ trợ đa cơ quan cho người bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người bệnh phải đối diện với những di chứng lâu dài.
Đường lây, biểu hiện bệnh cảnh đa dạng
Virus Nipah là bệnh lây truyền từ động vật sang người (zoonotic), với vật chủ tự nhiên là dơi ăn quả. Từ dơi, virus có thể lây sang lợn qua thức ăn, hoa quả nhiễm dịch tiết, sau đó lây từ lợn sang người qua tiếp xúc, giết mổ, tiêu thụ sản phẩm nhiễm bệnh. Đồng thời, virus cũng có thể lây trực tiếp từ người sang người qua đường hô hấp, tiếp xúc trực tiếp, dịch tiết cơ thể và chăm sóc bệnh nhân trong môi trường y tế.
Theo PGS.TS.BS Đỗ Duy Cường, chính chu kỳ lây nhiễm đa tầng, gây ra bệnh nặng và tử vong ở người khiến Nipah trở thành mối quan ngại về sức khỏe cộng đồng. Nipah không chỉ là vấn đề y tế con người mà còn là vấn đề của động vật, môi trường và sinh thái. Nó liên quan đến dơi, lợn, thực phẩm, nguồn nước, tập quán sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và cả môi trường bệnh viện. Vì vậy, kiểm soát Nipah không chỉ bằng mỗi ngành y tế, cần cả thú ý, môi trường, nông lâm nghiệp.
Đây cũng là lý do mô hình "One Health" được nhấn mạnh, tức là sự phối hợp giữa y tế, thú y, môi trường, nông nghiệp và quản lý sinh thái trong phòng chống dịch bệnh.
Về lâm sàng, Nipah là bệnh rất khó nhận diện. Biểu hiện bệnh không điển hình, đa dạng, như sốt, đau đầu, đau cơ, ho, viêm đường hô hấp, tiêu chảy, nôn… dễ nhầm lẫn với nhiều bệnh khác.
Nhiều trường hợp diễn biến rất nhanh trong bệnh cảnh viêm não - màng não (đau đầu, nôn, rối loại ý thức, hôn mê,..). Hình ảnh chụp não thường chỉ thấy các tổn thương nhỏ, rải rác, không đặc hiệu, gây khó khăn cho chẩn đoán. Đặc biệt, thời gian ủ bệnh trung bình 14 ngày, làm tăng nguy cơ lây lan âm thầm trong cộng đồng.

PGS.TS.BS Đỗ Duy Cường - Viện trưởng Viện Y học Nhiệt đới Bạch Mai, Bệnh viện Bạch Mai.
Không hoang mang, không chủ quan
Theo PGS.TS.BS Đỗ Duy Cường, Nipah chưa phải là mối đe dọa tức thì nhưng với những gì đang diễn ra tại các nước xung quanh chúng ta thì không thể lơ là. "Không chủ quan, nhưng cũng không hoang mang. Cách tiếp cận đúng là cảnh giác khoa học, giám sát dịch tễ chặt chẽ, chuẩn bị hệ thống y tế, tăng cường năng lực xét nghiệm, bảo vệ nhân viên y tế và truyền thông đúng cho cộng đồng", ông nhấn mạnh.
Các biện pháp phòng ngừa bệnh do virus Nipah như:
- Không tiêu thụ động vật hoang dã;
- Hạn chế tiếp xúc với các động vật có khả năng lây truyền cao như dơi;
- Vệ sinh thực phẩm, nguồn nước;
- "Ăn chín, uống sôi", rửa sạch và gọt vỏ trái cây trước khi ăn, không ăn, uống các loại trái cây có dấu hiệu bị động vật (dơi, chim) cắn hoặc gặm nhấm;
- Tránh uống nước nhựa cây (như nhựa cây thốt nốt, chà là, dừa sống hoặc chưa qua chế biến);
- Bảo hộ cá nhân khi tiếp xúc động vật;
- Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn sau khi giết mổ, tiếp xúc với động vật;
- Theo dõi y tế người có triệu chứng nghi ngờ để cách ly sớm ca bệnh, đặc biệt là phải bảo vệ nhân viên y tế;
- Tăng cường giám sát dịch tễ, phối hợp liên ngành theo mô hình "One Health" là biện pháp cần thiết áp dụng trong tình hình hiện nay.

