
Một bệnh nhi đang được điều trị tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 - Ảnh: N. Tâm
BS.CK2 Nguyễn Đình Văn, Trưởng khoa Ung bướu - Huyết học, Bệnh viện Nhi Đồng 2, cho biết hiện cả nước chỉ có khoảng 10 trung tâm điều trị ung thư nhi. Trong khi đó, mỗi năm Việt Nam ước tính có khoảng 3.000-3.500 trẻ mắc ung thư cần điều trị. Số lượng bệnh nhi tập trung tại số ít cơ sở khiến các trung tâm phải đối mặt với áp lực rất lớn về cơ sở vật chất và năng lực điều trị.
Thiếu nhân lực chuyên sâu về ung thư nhi
Theo bác sĩ Đình Văn, bệnh nhi ung thư cần được điều trị trong những điều kiện đặc biệt, nhất là yêu cầu kiểm soát nhiễm trùng. Trong khi đó, tình trạng thiếu phòng điều trị vẫn còn xảy ra. Có những thời điểm bệnh nhi phải nằm tại hành lang do không đủ phòng.
Chưa kể, vai trò của tuyến dưới trong hỗ trợ điều trị ung thư nhi vẫn chưa được phát huy đầy đủ. Một số kỹ thuật và công tác chăm sóc hỗ trợ tương đối cơ bản như xử trí sốt và giảm bạch cầu hạt, truyền các chế phẩm máu hoặc theo dõi, điều trị ở giai đoạn duy trì vẫn chưa thể thực hiện tốt tại tuyến dưới để hỗ trợ tuyến trên.
Một điểm nghẽn khác là nhân lực. Ngay cả khi ngành ung thư người lớn cũng đang thiếu bác sĩ, nhân lực điều trị ung thư nhi còn thiếu nghiêm trọng hơn. Số bác sĩ trên cả nước có thể điều trị ung thư nhi hiện chưa đến 100 người.
Đối với điều dưỡng, số lượng nhân lực có thể nhiều hơn nhưng điều dưỡng làm việc trong lĩnh vực ung thư nhi cần được trang bị những kỹ năng chuyên biệt, chẳng hạn kỹ thuật truyền hóa chất và theo dõi độc tính của thuốc. Những kỹ năng này cũng chưa được trang bị đầy đủ cho đội ngũ điều dưỡng đang làm việc hiện nay.
Ung thư nhi cũng là một lĩnh vực chưa thật sự hấp dẫn đối với nhiều bác sĩ. Ngay cả tại những bệnh viện lớn như Bệnh viện Nhi Đồng 2 và các bệnh viện ung bướu, số bác sĩ lựa chọn theo đuổi chuyên ngành ung thư nhi vẫn còn rất ít.
Bác sĩ Đình Văn cho rằng công tác đào tạo cũng là một "điểm nghẽn" cần được quan tâm.
Trong chương trình đào tạo của các trường đại học hiện nay có nội dung về ung thư, nhưng phần lớn tập trung vào ung thư ở người trưởng thành. Các chương trình đào tạo chuyên biệt về ung thư nhi còn rất hạn chế.
Trong khoảng 5 năm gần đây mới có chương trình chuyên khoa 2 về huyết học - ung bướu tại Trường Đại học Y Dược TPHCM, nhưng đào tạo sau đại học và đào tạo liên tục về điều trị ung thư nhi vẫn còn thiếu.
Để phát triển điều trị ung thư nhi, trước hết cần nhìn nhận đây là một bệnh lý thực sự hiện hữu và cần được chú trọng. Đặc biệt, với tỷ lệ chữa khỏi cao, đầu tư cho ung thư nhi không chỉ mang lại lợi ích cho từng bệnh nhi mà còn đem lại giá trị lâu dài cho xã hội.
Một trong những giải pháp quan trọng là mở rộng mạng lưới điều trị, tăng cường sự phối hợp giữa các trung tâm tuyến trên và tuyến dưới để tuyến dưới có thể hỗ trợ tốt hơn trong quá trình điều trị và chăm sóc bệnh nhi, bác sĩ Đình Văn kiến nghị.
Tỷ lệ chữa khỏi ung thư nhi có thể đạt trên 70%
Nhiều người vẫn chưa nghĩ rằng trẻ em cũng có thể mắc ung thư. Thậm chí, ngay cả một số người làm trong ngành y cũng bất ngờ khi biết trẻ em có thể mắc bệnh lý này. Phần lớn mọi người thường cho rằng trẻ mới sinh chưa tiếp xúc với thuốc, hóa chất hoặc các yếu tố môi trường nên khó có khả năng mắc ung thư.
Bác sĩ Đình Văn cho biết ung thư ở trẻ em là bệnh lý có thật và cần được quan tâm đúng mức.
Theo thống kê riêng tại Bệnh viện Nhi Đồng 2, trong khoảng 5 năm trở lại đây, khoa đang quản lý hơn 1700 bệnh nhi ung thư. Riêng năm 2024, bệnh viện phát hiện hơn 400 trường hợp.
Nếu tính trên phạm vi cả nước, số trẻ mắc ung thư được ước tính vào khoảng 3000-3500 trường hợp mỗi năm. Đây là con số không lớn nếu so với ung thư ở người trưởng thành, nhưng chiến lược chẩn đoán và điều trị ung thư nhi hoàn toàn khác.
Đối với ung thư ở người trưởng thành, việc tầm soát có vai trò quan trọng nhằm phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm để điều trị. Tuy nhiên, đối với ung thư nhi, tầm soát không phải vấn đề được đặt lên hàng đầu.
Các triệu chứng ung thư ở trẻ thường khởi phát khá cấp tính và biểu hiện tương đối rầm rộ. Do đó, các chương trình tầm soát đại trà không phải là giải pháp chính để phát hiện sớm ung thư nhi.
Bác sĩ Đình Văn lưu ý, khi ung thư nhi không được nhận diện và chẩn đoán kịp thời, bệnh nhi có thể tử vong. Trẻ có thể được chẩn đoán ban đầu với những tình trạng như nhiễm trùng huyết, tổn thương đa cơ quan hoặc các bệnh lý nhiễm trùng khác.
Do ung thư nhi ít được nghĩ đến, bệnh có thể bị chẩn đoán nhầm. Đến khi được chuyển đến các cơ sở chuyên sâu, bệnh nhi thường đã ở trong tình trạng rất nặng và có trường hợp không qua khỏi.
Trên thế giới, tỷ lệ chữa khỏi ung thư nhi tại các nước phát triển có thể lên đến khoảng 90%. Tại Việt Nam, theo nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi Đồng 2, tỷ lệ chữa khỏi có thể đạt trên 70% bệnh nhi.
Bác sĩ Đình Văn lưu ý, cần phân biệt tỷ lệ chữa khỏi với tỷ lệ sống. Tỷ lệ sống còn có thể cao hơn, trong khi tỷ lệ chữa khỏi phản ánh số bệnh nhân được điều trị hết bệnh.
"Điều trị ung thư nhi đạt hiệu quả tương đối cao. Điều này có ý nghĩa rất lớn bởi khi chữa khỏi bệnh cho một đứa trẻ, ngành y không chỉ cứu được một người bệnh mà còn giúp em có cơ hội tiếp tục sống, học tập, trưởng thành và đóng góp cho gia đình, xã hội trong một chặng đường rất dài phía trước", bác sĩ Đình Văn nói.
Ung thư nhi có xu hướng tăng từng năm
Theo bác sĩ Đình Văn, trong điều trị ung thư nhi, ngoài tiền thuốc, gia đình bệnh nhi còn phải đối mặt với nhiều khoản chi phí khác như đi lại, ăn ở và sinh hoạt. Đây là gánh nặng đáng kể đối với những gia đình có con mắc ung thư.
Nếu bệnh nhân người lớn phần lớn có thể tự chăm sóc bản thân thì trẻ em cần có cha, mẹ hoặc người thân đi cùng trong quá trình điều trị. Thậm chí, có trường hợp cần hai người thân cùng chăm sóc. Điều này đồng nghĩa gia đình có thể mất đi nguồn thu nhập trong thời gian dài để đồng hành cùng trẻ điều trị.
Ung thư nhi cũng có xu hướng được ghi nhận tăng qua từng năm. Tuy nhiên, sự gia tăng này khác với ung thư ở người trưởng thành.Ở người lớn, sự gia tăng ung thư có thể liên quan đến nhiều yếu tố như dân số già hóa, môi trường, lối sống và việc bệnh được phát hiện sớm hơn.
Trong khi đó, đối với ung thư nhi, sự gia tăng số trường hợp được phát hiện theo từng năm được nhìn nhận chủ yếu là do hệ thống y tế ngày càng phát triển. Việc chuyển tuyến tốt hơn, các chương trình chuyển tuyến và kết nối giữa các cơ sở y tế được thực hiện hiệu quả hơn giúp nhiều bệnh lý ung thư nhi được nhận diện và chẩn đoán.
Bên cạnh đó, năng lực điều trị ngày càng tốt hơn cũng góp phần giúp phát hiện và tiếp nhận nhiều bệnh nhi ung thư hơn.