Việt Nam 1945 là tên cuốn sử tiếng Anh khổ lớn, dày 600 trang của giáo sư Mỹ David G. Marr - Trường Đại học Quốc gia Úc. Ông đã từng nổi danh là một chuyên gia về lịch sử Việt Nam hiện đại với 2 tác phẩm: Chủ nghĩa chống thực dân của Việt Nam và Truyền thống Việt Nam trước thử thách. Từ khi xuất bản năm 1995, có lẽ chưa có tác phẩm nào nghiên cứu Việt Nam vượt được Việt Nam 1945 về mọi mặt. Đó là kết quả 13 năm lao động trí óc bền bỉ, đi săn tư liệu ở Việt Nam, Mỹ, Pháp, Úc để dệt một bức thảm lịch sử so sánh các quan điểm khác nhau và đạt tới một cách nhìn khách quan tối đa. Shawn Mc. Hale đánh giá cuốn sách là một cái nhìn đầy đủ nhất về một trong những năm quan trọng nhất của lịch sử Việt Nam, một cột mốc để tìm hiểu lịch sử Việt Nam. Theo A.O. Edmands, đây là một kiệt tác sử học!
Tôi có chút duyên văn với ông Marr. Cách đây mấy năm, trong email gửi chúc mừng sinh nhật của tôi, ông viết: "Tôi chắc chắn lần đầu tiên tôi gặp Hữu Ngọc là năm 1974, ở thư viện tuyệt vời của Nhà xuất bản Ngoại văn phố Trần Hưng Đạo. Tôi thường đến đó đánh bóng bàn với BS. Nguyễn Khắc Viện và bàn với Hữu Ngọc về việc dịch văn học Việt Nam sang tiếng Anh. Vào những năm 80, Hữu Ngọc giới thiệu tôi với nhiều người tham gia Cách mạng Tháng Tám 1945, họ đã cung cấp nhiều tư liệu cho cuốn Việt Nam 1945 của tôi. Vào cuối những năm 90, Hữu Ngọc tham gia nhóm Phan Huy Lê, Việt Phương, Hy Văn Lượng, Ben Kerkylìef và tôi để thực hiện dự án dịch những tác phẩm tiêu biểu của khoa học xã hội phương Tây". Quả là trí nhớ của nhà sử học!
Viết cuốn Việt Nam 1945, Marr có một nhận xét khá tinh tế: Bất cứ một người Việt Nam nào tuổi ngoài 80 đều nhớ đến Cách mạng Tháng Tám không như một sự kiện lịch sử khách quan mà là một sự kiện cá nhân, thay đổi hẳn cuộc đời mình, bản thân mình không phải là người ngoài cuộc mà cũng là một tác nhân của lịch sử. Đó cũng tương tự như cảm giác của người Mỹ đã sống vào thời điểm 1941 khi Nhật oanh tạc Trân Châu cảng.
Ý đồ sáng tác cuốn Việt Nam 1945 đã sớm đến với D. Marr từ năm 1961 khi ông học tiếng Việt ở Mỹ, được nghe các thầy Việt Nam kể về thể nghiệm Cách mạng Tháng Tám của họ. 6 năm sau, ông lại có dịp hỏi chuyện một số nhân vật Việt và Nhật có vai trò quan trọng thời đó. Những năm 70 - 80, Pháp cho phép các nhà nghiên cứu được tiếp xúc với những tư liệu thời thuộc địa, Việt Nam cũng cho phép tiếp xúc với những tư liệu thời Cách mạng. D. Marr lúc ấy mới biết chắc là có thể viết chi tiết về Việt Nam 1945. Mấy năm ở Việt Nam, ông "vơ vét" sách báo cũ rồi đóng thùng gửi về Úc. Đặc biệt, những tư liệu thời Bảo Đại và thời đầu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thu thập ở Aix (Pháp) là một kho vàng cho nhà sử học. Không thể tách Việt Nam ra khỏi bối cảnh quốc tế, do đó, D. Marr lại phải lùng kiếm tư liệu Pháp, Nhật, Anh, Mỹ, Trung Quốc. Ông cố gắng làm nổi bật một số nhân vật chủ chốt của lịch sử 1945. Điều này rất công phu và khó khăn. Ví dụ Hồ Chí Minh có rất nhiều tên, hoạt động ở khắp nơi. D. Marr mất rất nhiều thời gian lùng tìm các nhân chứng và tác nhân liên quan.
Quan niệm sử học của D. Marr rất thoáng, tránh gò bó những sự kiện lịch sử theo một lô-gich cứng nhắc, quan điểm quyết định luận máy móc. "Lịch sử không phải chỉ là những sự kiện lớn, người thường dân làm những việc tưởng như ngẫu nhiên, vậy mà đôi khi lại ảnh hưởng đến sự biến diễn của tình thế". Vì cuộc sống có những mối liên quan đa dạng, vô hình, không nhất thiết là do những chính khách hoặc nhà tư tưởng tạo ra. "Chân lý duy nhất của sử học là không có những chân lý lịch sử, chỉ có vô vàn thể nghiệm, đa số bị lãng quên, một số ít được ghi nhớ và nhào nặn bởi các ca sĩ cổ đại, nhà viết tiểu thuyết, triết gia, giáo sĩ, nhà điện ảnh và dĩ nhiên cả các sử gia chuyên nghiệp!", có điều khác là các sử gia bao giờ cũng có đầu óc hoài nghi, luôn kiểm tra về nguồn tư liệu. Khi nhận định về sự kiện, về con người, phải tránh sự phân chia rạch ròi giữa thiện và ác, đen và trắng rõ ràng, nhất là trong giai đoạn cách mạng và chiến tranh, tất cả đều hỗn mang.
Hữu Ngọc