Viêm xương hàm hay bị bỏ qua do triệu chứng dễ nhầm với bệnh răng miệng thông thường

Bệnh thường gặp
SKĐS - Viêm xương hàm thường khởi phát với các triệu chứng giống viêm lợi hoặc sâu răng nên dễ bị bỏ qua. Nếu không được phát hiện và điều trị sớm, bệnh có thể gây tổn thương xương hàm, ảnh hưởng chức năng ăn nhai và làm tăng nguy cơ biến chứng.
Viêm xương hàm hay bị bỏ qua do triệu chứng dễ nhầm với bệnh răng miệng thông thường- Ảnh 1.5 bài tập giúp xương hàm khỏe mạnh

SKĐS- Chúng ta thường chú ý đến cơ thể của mình khi tập thể dục, nhưng chúng ta quên rằng cơ mặt của cũng cần phải tập luyện, trong đó các động tác nâng xương hàm không chỉ giúp định hình khuôn mặt mà còn ngăn ngừa đau cổ, đau đầu và đau hàm.

Viêm xương hàm là bệnh lý xảy ra khi xương hàm bị viêm do nhiễm khuẩn hoặc các tổn thương tại vùng hàm mặt. Do các triệu chứng ban đầu thường tương tự nhiều bệnh lý răng miệng như viêm lợi, sâu răng nên người bệnh dễ nhầm lẫn, khiến việc điều trị bị chậm trễ. Điều này làm bệnh tiến triển nặng hơn, gia tăng nguy cơ biến chứng và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng ăn nhai cũng như chất lượng cuộc sống.

Viêm xương hàm không chỉ gây đau nhức kéo dài mà còn có thể làm tổn thương cấu trúc xương, ảnh hưởng đến khớp thái dương hàm và các mô mềm xung quanh. Người bệnh thường gặp khó khăn khi nói chuyện, há miệng hoặc nhai nuốt thức ăn.

Nguyên nhân gây viêm xương hàm

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến viêm xương hàm, trong đó nhiễm khuẩn từ các bệnh lý răng miệng là nguyên nhân thường gặp nhất.

Biến chứng trong quá trình mọc răng

Trong quá trình mọc răng, đặc biệt là răng khôn, lợi có thể trùm lên thân răng, tạo các khe hở khiến thức ăn dễ mắc lại. Đây là môi trường thuận lợi để vi khuẩn phát triển và gây viêm nhiễm. Nếu không được xử trí kịp thời, tình trạng viêm có thể lan xuống xương hàm.

Sâu răng kéo dài

Sâu răng không được điều trị có thể tiến triển thành viêm tủy, viêm quanh chóp răng, áp xe răng hoặc viêm mô mềm. Khi vi khuẩn lan sâu vào vùng xương quanh chân răng, tình trạng viêm xương hàm có thể xảy ra. Đặc biệt, các ổ nhiễm khuẩn mạn tính là nguồn phát tán vi khuẩn nguy hiểm.

Chấn thương vùng hàm mặt

Các chấn thương do tai nạn, va đập mạnh hoặc gãy xương hàm có thể làm lộ xương, tạo điều kiện để vi khuẩn xâm nhập và gây viêm. 

Khối u vùng hàm 

Một số khối u lành tính hoặc ác tính ở xương hàm có thể phá hủy cấu trúc xương, tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển và gây viêm.

Lão hóa

Theo thời gian, cấu trúc xương và sụn khớp dần bị thoái hóa, làm giảm khả năng chống chịu trước các tác động từ bên ngoài, từ đó làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý về xương hàm.

Một số bệnh lý toàn thân

Một số bệnh truyền nhiễm như sởi, cúm, lao, giang mai hoặc các bệnh gây suy giảm miễn dịch cũng có thể làm tăng nguy cơ viêm xương hàm.

Viêm xương hàm hay bị bỏ qua do triệu chứng dễ nhầm với bệnh răng miệng thông thường- Ảnh 2.

Viêm xương hàm thường khởi phát với các triệu chứng giống viêm lợi hoặc sâu răng nên dễ bị bỏ qua. Ảnh TL

Những thói quen làm tăng nguy cơ mắc viêm xương hàm

Bên cạnh các nguyên nhân bệnh lý, nhiều thói quen tưởng chừng vô hại cũng có thể góp phần gây tổn thương vùng hàm.

Nghiến răng khi ngủ khiến khớp thái dương hàm phải chịu áp lực lớn trong thời gian dài, làm tổn thương sụn khớp và xương hàm. Thói quen chỉ nhai một bên hàm hoặc thường xuyên ăn thực phẩm quá cứng cũng khiến lực nhai phân bố không đều, tạo áp lực kéo dài lên xương và khớp hàm.

Ngoài ra, căng thẳng kéo dài có thể làm các cơ vùng hàm co cứng, làm tăng nguy cơ nghiến răng và rối loạn chức năng khớp thái dương hàm.

Dấu hiệu nhận biết viêm xương hàm

Các triệu chứng của viêm xương hàm khá giống với nhiều bệnh lý răng miệng khác nên người bệnh rất dễ nhầm lẫn. Những dấu hiệu thường gặp gồm:

  • Đau nhức răng và vùng lợi kéo dài.
  • Lợi sưng đỏ, có thể chảy mủ.
  • Sưng nề một bên hoặc cả hai bên vùng mặt.
  • Đau tăng dần theo thời gian, đặc biệt khi ăn nhai hoặc há miệng.
  • Đau lan lên tai, thái dương hoặc vùng cổ.
  • Hạn chế há miệng, khó nhai và khó nói.
  • Nổi hạch vùng cổ hoặc dưới hàm.
  • Một số trường hợp có sốt, mệt mỏi và hơi thở có mùi hôi.

Ở giai đoạn đầu, người bệnh thường chỉ cảm thấy đau âm ỉ nên dễ chủ quan. Tuy nhiên, khi tình trạng viêm lan rộng, cơn đau sẽ trở nên dữ dội hơn và ảnh hưởng đáng kể đến sinh hoạt hằng ngày.

Nếu xuất hiện các triệu chứng trên mà không xác định được nguyên nhân, người bệnh nên đến các cơ sở chuyên khoa Răng Hàm Mặt hoặc Tai Mũi Họng để được thăm khám và điều trị kịp thời.

Biến chứng nếu không điều trị kịp thời

Mặc dù hiếm khi đe dọa trực tiếp đến tính mạng, viêm xương hàm có thể gây nhiều biến chứng nghiêm trọng nếu không được điều trị đúng cách.

Một trong những biến chứng thường gặp là giãn khớp thái dương hàm, làm tăng nguy cơ trật khớp hoặc kẹt khớp, gây khó khăn trong vận động hàm.

Nhiễm trùng cũng có thể lan xuống vùng sàn miệng, cổ hoặc trung thất. Khi đó, người bệnh có thể bị sưng nề vùng dưới hàm, lưỡi bị đẩy lên cao, gây khó khăn trong nói chuyện, ăn uống và thậm chí ảnh hưởng đến hô hấp.

Ở những trường hợp nặng, tình trạng viêm kéo dài có thể phá hủy cấu trúc xương, làm biến dạng xương hàm, ảnh hưởng đến chức năng ăn nhai và thẩm mỹ khuôn mặt. Ngoài ra, nhiễm khuẩn kéo dài còn làm tăng nguy cơ hình thành áp xe, rò mủ hoặc viêm lan rộng sang các mô mềm xung quanh.

Để giảm nguy cơ viêm xương hàm, mỗi người cần duy trì thói quen chăm sóc răng miệng đúng cách; đánh răng ít nhất hai lần mỗi ngày, sử dụng chỉ nha khoa và khám răng định kỳ 6 tháng/lần. Khi có răng sâu, viêm lợi hoặc răng khôn mọc lệch, cần điều trị sớm để ngăn ngừa vi khuẩn lan rộng.

Bên cạnh đó, nên hạn chế nghiến răng, tránh nhai một bên trong thời gian dài, xây dựng chế độ dinh dưỡng đầy đủ và giữ tinh thần thoải mái nhằm giảm áp lực lên khớp hàm. Việc phát hiện sớm và điều trị đúng nguyên nhân không chỉ giúp kiểm soát bệnh hiệu quả mà còn hạn chế nguy cơ biến chứng, bảo tồn chức năng ăn nhai và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Viêm xương hàm hay bị bỏ qua do triệu chứng dễ nhầm với bệnh răng miệng thông thường- Ảnh 3.Ung thư xương hàm có chữa khỏi?

SKĐS - Tôi bị ung thư xương hàm đã 10 tháng nay, khi phát hiện bác sĩ nói chưa di căn, nhưng không ngờ sau khi phẫu thuật được một thời gian thì bị di căn, hiện đang phải xạ trị. Xin hỏi bác sĩ bệnh của tôi có chữa được không?

Ý kiến của bạn
Tags: