Viêm phổi mắc phải ở cộng đồng (gọi tắt là viêm phổi cộng đồng) là tình trạng nhiễm khuẩn cấp tính ở nhu mô phổi xảy ra ở cộng đồng, ngoài bệnh viện. Đây là bệnh lý thường gặp vào mùa đông, xuân.
Hình ảnh viêm phổi trên phim Xquang. |
Những ai dễ mắc viêm phổi?
Tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong của viêm phổi cộng đồng cao: Tại Hoa Kỳ ước tính có khoảng 4 triệu trường hợp viêm phổi cộng đồng/năm, 1 triệu bệnh nhân phải nhập viện và 45.000 ca tử vong. Tỷ lệ tử vong của viêm phổi cộng đồng ở bệnh nhân nhập viện là 14%, nhưng tăng tới 20 - 50% ở những bệnh nhân điều trị ở Khoa hồi sức tích cực. Là bệnh có tỷ lệ tử vong đứng thứ hai trong các bệnh nhiễm khuẩn phải nhập viện. Tại Việt Nam, viêm phổi cộng đồng chiếm khoảng 14% các bệnh nhân bệnh phổi nhập viện. |
Dấu hiệu nhận biết
Sốt, ho, khạc đờm, khó thở, đau ngực, khám phổi có ran nổ... và chụp Xquang ngực thấy hình ảnh phổ biến là các nốt, đám mờ khu trú ở một vùng hay lan tỏa hai phổi. Chẩn đoán viêm phổi nhiều khi gặp khó khăn và dễ nhầm với một số bệnh như nhồi máu phổi, ung thư phổi, suy tim ứ huyết...Khi đến khám bệnh, các bệnh nhân viêm phổi thường phải làm các xét nghiệm như: chụp Xquang phổi, xét nghiệm công thức máu, một số chỉ tiêu sinh hóa máu, xét nghiệm đờm (soi, cấy đờm), điện tim... Một trong những vấn đề chẩn đoán quan trọng trên lâm sàng ở bệnh nhân viêm phổi là xác định các nguyên nhân gây viêm phổi. Để xác định nguyên nhân gây viêm phổi cần phải làm các xét nghiệm như soi, cấy đờm hay xét nghiệm gen (Polymerase chain reaction-PCR) tìm vi khuẩn, virut. Tuy nhiên trên thực tế lâm sàng không phải lúc nào cũng xác định được nguyên nhân viêm phổi, đặc biệt ở ngay thời điểm bệnh nhân đến khám hoặc nhập viện. Để định hướng nguyên nhân gây viêm phổi trên lâm sàng các bác sĩ thường xác định bệnh nhân thuộc loại viêm phổi “điển hình” hay viêm phổi “không điển hình” và đưa ra lựa chọn điều trị thích hợp.
Điều trị như thế nào?
Nguyên tắc chính điều trị viêm phổi cấp là điều trị nguyên nhân, điều trị các triệu chứng (hạ sốt, long đờm, giảm đau...) và các biến chứng nếu có (trụy tim mạch, suy hô hấp, tràn dịch, tràn khí màng phổi). Kháng sinh thường được sử dụng nếu nguyên nhân của viêm phổi là vi khuẩn. Việc lựa chọn kháng sinh ban đầu trong viêm phổi dựa vào định hướng căn nguyên vi khuẩn trên lâm sàng (còn gọi là điều trị kháng sinh ban đầu theo “kinh nghiệm”) và theo dõi đáp ứng lâm sàng, Xquang theo điều trị để thay đổi kháng sinh thích hợp. Một vấn đề quan trọng đối với bệnh nhân viêm phổi là sự đánh giá mức độ nặng nhẹ của bệnh để đưa ra tiên lượng bệnh và quyết định bệnh nhân điều trị ngoại trú, nội trú hay ở khoa hồi sức tích cực.
Chlamydophila pneumoniae - vi khuẩn gây viêm phổi. |
Làm gì để phòng tránh viêm phổi?
Những người nghiện thuốc lá cần ngừng hút, hoặc cai thuốc. Tiêm vaccin là một trong những biện pháp dự phòng viêm phổi có hiệu quả nhất. Tiêm vaccin phòng cúm được khuyến cáo cho những người từ 50 tuổi; những người có các bệnh mạn tính như tiểu đường, suy thận, hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính...; nhân viên y tế tiếp xúc trực tiếp với các bệnh nhân có nguy cơ viêm phổi. Tiêm vaccin phòng phế cầu 5 năm một lần ở người tuổi trên 65 và ở những người trẻ hơn mắc bệnh mạn tính. Dự phòng nhiễm khuẩn đường hô hấp trên (đeo khẩu trang, súc họng bằng các nước sát khuẩn họng, miệng) và điều trị sớm, tích cực khi nhiễm khuẩn đường hô hấp trên xuất hiện. Thực hiện chế độ ăn uống đầy đủ các chất đạm, vitamin, chất khoáng. Có chế độ lao động, nghỉ ngơi, rèn luyện thể dục hợp lý, tránh lạnh đột ngột (không tắm lạnh, ăn đồ ăn, uống nước quá lạnh...). Khi có các triệu chứng gợi ý viêm phổi cấp người bệnh cần phải đến các phòng khám hoặc bệnh viện gần nhất để được khám xét, chẩn đoán và điều trị bệnh kịp thời.
TS. Tạ Bá Thắng (Bệnh viện 103 - Học viện Quân y