Nằm trong khuôn khổ của dự án “Quá trình hoạch định chính sách y tế tại Việt Nam, Ấn Độ và Trung Quốc: mối tương quan và các yếu tố ảnh hưởng” (viết tắt là HEPVIC) với sự tham gia của đại diện một số Sở Y tế, Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản các tỉnh miền Bắc và miền Trung, tại Hà Nội đã diễn ra hội thảo “Báo cáo kết quả nghiên cứu về quá trình xây dựng chính sách liên quan đến sức khỏe sinh sản của Việt Nam” do Vụ Sức khỏe Bà mẹ và Trẻ em (Bộ Y tế) và trường ĐH Y tế Công cộng phối hợp tổ chức. Hội thảo đã báo cáo các kết quả nghiên cứu về quá trình xây dựng chính sách liên quan đến sức khỏe sinh sản tại Việt Nam như: Kế hoạch quốc gia về làm mẹ an toàn 2003-2010; Kế hoạch tổng thể quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe vị thành niên và thanh niên trong giai đoạn 2006-2010 và định hướng chiến lược đến năm 2020.
![]() Ảnh có tính minh họa. Ảnh: Gettyimages.com |
Dự án HEPVIC do Ủy Ban Châu Âu tài trợ (từ tháng 11/2005- tháng 10/2008 gồm 3 giai đoạn) là dự án nghiên cứu có sự tham gia của 8 viện/trường đại học (5 ở châu Âu và 3 ở Châu Á) trong đó có trường ĐH Y tế công cộng của Việt Nam với mục tiêu thúc đẩy quá trình hoạch định chính sách ở các nước đang phát triển thông qua nghiên cứu so sánh tại 3 nước chấu Á: Việt Nam, Ấn Độ và Trung Quốc. Ba quốc gia được chọn đều có gánh nặng lớn về những vấn đề sức khỏe bà mẹ và khác biệt về các yếu tố như bối cảnh chính trị, kinh tế, dịch tễ, dịch vụ y tế và vai trò của xã hội dân sự sẽ ảnh hưởng đến sự hình thành chính sách y tế của từng quốc gia. Nghiên cứu này tập trung vào hai vấn đề chính: Thứ nhất là những khoảng cách đã biết giữa Biết và Làm; Thứ hai, sẽ tìm hiểu mối tương tác phức tạp giữa các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chính sách, mở ra một hướng nghiên cứu mới mẻ. Nghiên cứu này được tiến hành ở Việt Nam do trường Đại học Y tế công cộng thực hiện dưới hình thức nghiên cứu trường hợp về quá trình chính sách trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản thông qua 3 văn bản: Kế hoạch quốc gia về làm mẹ an toàn 2003-2010; Kế hoạch tổng thể quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe vị thành niên và thanh niên trong giai đoạn 2006-2010 và định hướng chiến lược đến năm 2020; Luật Phòng chống bạo lực gia đình....
Nghiên cứu thuộc Kế hoạch tổng thể quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe vị thành niên và thanh niên trong giai đoạn 2006-2010 và định hướng chiến lược đến năm 2020 cho thấy, nhóm vị thành niên và thanh niên (từ 10-24 tuổi) chiếm khoảng 32% dân số Việt Nam (~27 triệu). Đối tượng này hiện đang đối mặt với nhiều nguy cơ về sức khỏe sinh sản như quan hệ tình dục không an toàn, có thai ngoài ý muốn, nạo phá thai không an toàn, HIV/AIDS, …
Một nghiên cứu khác của dự án cũng cho biết, khoảng 15% số phụ nữ có thai ở nước ta sẽ gặp phải các biến chứng không thể phòng ngừa hay dự đoán trước. Tuy nhiên có tới 80% số trường hợp tử vong có nguyên nhân trực tiếp là một trong năm tai biến sản khoa chính (băng huyết sau sinh, ngộ độc thai, nhiễm trùng hậu sản, uốn ván rốn và vỡ tử cung) có thể được giải quyết bằng các can thiệp về thuốc hay phẫu thuật mà không hề tốn kém. Do đó, giảm tỷ suất tử vong mẹ, đặc biệt là ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa là một trong những vấn đề ưu tiên hàng đầu trong công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản của bà mẹ không chỉ của nước ta mà còn của toàn thế giới.
T.B
