Thù lao cho nhà khoa học tối đa 300 triệu đồng/tháng
Thông tư số 49/2026/TT-BKHCN ngày 1/8/2026 của Bộ Khoa học và Công nghệ cụ thể hóa cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ R&D công nghệ chiến lược. Một trong những điểm đáng chú ý là cơ chế thù lao cho nhân lực tham gia nhiệm vụ được thiết kế theo vị trí, trách nhiệm và kết quả công việc, thay vì áp dụng một mức chi trả cứng theo cách tiếp cận truyền thống.
Trao đổi về cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển (R&D) công nghệ chiến lược, ông Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia cho biết, mức thù lao 300 triệu đồng/tháng được xây dựng trên cơ sở tham chiếu quốc tế và có những điều chỉnh phù hợp.
Theo ông Đào Ngọc Chiến, trước hết cơ quan xây dựng cơ chế tham chiếu mức thu nhập tại Singapore. Sau đó, mức này được nhân với hệ số sức mua tương đương của hai quốc gia, đồng thời có một điều chỉnh liên quan đến sự khan hiếm nguồn nhân lực, từ đó đưa ra mức 300 triệu đồng/tháng đối với Tổng công trình sư.
"Trên cơ sở đó, chúng tôi tham chiếu các vị trí công việc khác và đưa ra các mức thù lao", ông Đào Ngọc Chiến nói.

Ông Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia.
Theo ông Đào Ngọc Chiến, trong trường hợp thông thường, mức thuê chuyên gia tối đa có thể bằng mức thù lao của Chủ nhiệm nhiệm vụ. Với trường hợp đặc biệt, mức thuê có thể cao hơn, nhưng cần có quyết định cụ thể của cơ quan có thẩm quyền.
Thông tư về cơ chế tài chính quy định mức thuê chuyên gia thông thường tối đa là 150 triệu đồng/tháng. Trong trường hợp đặc biệt, mức thuê tối đa có thể lên tới 300 triệu đồng/tháng, bằng mức thù lao của Tổng công trình sư, khi thuyết minh rõ sự cần thiết, hiệu quả và khả năng cân đối kinh phí.
Việc xác định mức thuê chuyên gia dựa trên yêu cầu chuyên môn, phạm vi công việc, năng lực, kinh nghiệm, thời gian tham gia, mặt bằng giá thị trường và thông lệ quốc tế.
Theo ông Đào Ngọc Chiến, nguồn ngân sách nhà nước và kinh phí đối ứng được phân bổ theo từng gói công việc. Mỗi gói công việc phải xác định rõ mục tiêu, phạm vi công việc, sản phẩm đầu ra, kinh phí, tổ chức hoặc cá nhân chịu trách nhiệm và thời gian thực hiện.
Các gói công việc được tổng hợp tại từng mốc đánh giá. Hội đồng đánh giá căn cứ vào sản phẩm và bằng chứng đã xác định từ đầu, thay vì xem xét đã chi bao nhiêu hoặc hoàn thành bao nhiêu thủ tục.
Kết quả tại mốc đánh giá là căn cứ để thanh toán, quyết toán và cấp kinh phí cho giai đoạn tiếp theo. Nếu không đạt, việc cấp kinh phí sẽ được xem xét điều chỉnh hoặc có thể dừng.
Cơ chế này được khái quát bằng nguyên tắc "dòng tiền đi theo kết quả". Nhiệm vụ được triển khai theo các gói công việc, mốc đánh giá và sản phẩm đầu ra; đạt yêu cầu thì cấp kinh phí tiếp, không đạt thì dừng.
Theo cơ chế mới, Nhà nước có thể hỗ trợ tối đa 100% đối với những nhiệm vụ được đặt hàng, tập trung vào công nghệ lõi, công nghệ nền tảng, công nghệ có ý nghĩa quan trọng đối với tự chủ công nghệ quốc gia, quốc phòng, an ninh hoặc có mức độ rủi ro cao về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Với sản phẩm công nghệ chiến lược có khả năng ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa, mức hỗ trợ tối đa từ ngân sách nhà nước là 70%, phần còn lại được huy động từ kinh phí đối ứng.
Cùng với đó, cơ chế mới cho phép triển khai nhiều phương án nghiên cứu độc lập cho cùng một bài toán, sau đó sàng lọc theo kết quả từng mốc và dừng những phương án không còn phù hợp. Kinh phí dự phòng tối đa 10% tổng dự toán từ ngân sách nhà nước cũng được bố trí để xử lý các phát sinh về nội dung, khối lượng, trượt giá vật tư, nhân công trong quá trình chế tạo, thử nghiệm sản phẩm.
Doanh nghiệp và tổ chức cũng có thể tham gia bằng cách đóng góp máy móc, thiết bị, phòng thí nghiệm, quyền sở hữu trí tuệ hoặc nhân lực, cùng Nhà nước giải quyết các bài toán công nghệ.
Chấp nhận rủi ro nhưng không chấp nhận sai phạm
Ông Đào Ngọc Chiến cho biết một cơ chế mới được thiết kế nhằm tạo dư địa để hoạt động R&D không bị gián đoạn, trong bối cảnh hoạt động nghiên cứu phát triển có độ bất định và thời gian thực hiện càng dài thì rủi ro càng cao.
Theo đó, một bài toán công nghệ có thể được triển khai theo nhiều phương án nghiên cứu độc lập. Sau mỗi mốc đánh giá, phương án tốt được tiếp tục, phương án không đạt có thể được điều chỉnh hoặc dừng.
Cơ chế tài chính cũng cho phép bố trí kinh phí dự phòng 10% tổng kinh phí từ ngân sách nhà nước. Khoản dự phòng này được thiết kế để xử lý những thay đổi không lường trước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Bên cạnh đó, tổ chức chủ trì có thể ứng trước nguồn kinh phí hợp pháp để triển khai ngay các nội dung cấp bách trong thời gian chờ ngân sách nhà nước cấp.
Kinh phí đối ứng cũng không chỉ được tính bằng tiền. Doanh nghiệp, tổ chức có thể đóng góp bằng máy móc, thiết bị, phòng thí nghiệm, quyền sở hữu trí tuệ và nhân lực.
Một nội dung được ông Đào Ngọc Chiến nhấn mạnh là nguyên tắc trao quyền mạnh hơn, trách nhiệm cao hơn.
Theo đó, tự chủ không có nghĩa là buông lỏng quản lý. Cơ chế mới chấp nhận những rủi ro khách quan vốn có của hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, kể cả trường hợp một phương án nghiên cứu không đạt kết quả dự kiến, nếu quá trình triển khai đúng quy trình, đúng thủ tục, minh bạch, trung thực và có đầy đủ bằng chứng.
Tuy nhiên, việc chấp nhận rủi ro khoa học khác với việc chấp nhận sai phạm trong quản lý và sử dụng nguồn lực.
Thông tư của Bộ Khoa học và Công nghệ nêu rõ cơ chế mới chấp nhận rủi ro khách quan của R&D nhưng không chấp nhận sai phạm trong sử dụng nguồn lực; việc thực hiện được theo dõi trên nền tảng số, gắn với giải trình và quản lý theo rủi ro.
Theo ông Đào Ngọc Chiến, các đơn vị chủ trì có trách nhiệm cung cấp tình hình thực hiện và kết quả thực hiện trên nền tảng số, qua đó các cơ quan quản lý có thể theo dõi quá trình triển khai. "Chúng ta chấp nhận rủi ro để tạo không gian cho đổi mới, nhưng phải quản trị rủi ro để bảo vệ nguồn lực", ông Đào Ngọc Chiến nhấn mạnh.
Theo ông Đào Ngọc Chiến, toàn bộ cơ chế có thể được khái quát qua năm thành tố: đầu tư cho con người theo vị trí; thu hút chuyên gia theo cơ chế thị trường; quản lý kết quả thông qua gói công việc, mốc đánh giá và quyết định tiếp tục hay dừng; trao quyền gắn với trách nhiệm giải trình; chấp nhận rủi ro có kiểm soát.
Các thành tố này cùng hướng tới chuỗi kết quả gồm làm chủ công nghệ, hình thành sản phẩm, chuyển giao và thương mại hóa. Nội dung này cũng được thể hiện trong cơ chế tài chính của Thông tư 49/2026/TT-BKHCN. Mục tiêu của cơ chế là chuyển từ tài trợ cho từng hoạt động nghiên cứu sang đầu tư cho mục tiêu, cho năng lực làm chủ công nghệ quốc gia.
Từ đó, mức thù lao tối đa 300 triệu đồng/tháng đối với Tổng công trình sư được đặt trong tổng thể cơ chế tài chính dành cho nhiệm vụ R&D công nghệ chiến lược, cùng với cơ chế thuê chuyên gia, phân bổ kinh phí theo kết quả, dự phòng kinh phí, ứng trước nguồn hợp pháp, huy động kinh phí đối ứng và quản trị rủi ro.
Cơ sở để xây dựng mức thù lao tối đa 300 triệu đồng/tháng không chỉ là mong muốn trả thu nhập cao cho nhà khoa học. Đây là một phần trong cơ chế tài chính nhằm thu hút và trọng dụng nhân tài, tạo môi trường đủ sức cạnh tranh để huy động chuyên gia giỏi, đồng thời gắn quyền lợi với trách nhiệm và kết quả nghiên cứu.
Mục tiêu cuối cùng là chuyển nguồn lực công thành năng lực làm chủ công nghệ quốc gia, hình thành sản phẩm, thúc đẩy chuyển giao và thương mại hóa.