Về với “Nam Thiên đệ nhất tự”

Văn hóa – Giải trí
Chùa Vĩnh Nghiêm ở thôn Đức La, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang nên còn gọi là chùa Đức La, cách thủ đô Hà Nội chừng khoảng 80 cây số về phía Bắc.

(SKDS) - Chiều ngày 16/5/2012, tại Hội nghị của UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương tổ chức tại Bangkok (Thái Lan) đã công bố quyết định công nhận Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm là Di sản tư liệu thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Ca dao cổ có câu: Ai qua Yên Tử, Quỳnh Lâm/ Vĩnh Nghiêm chưa tới, thiền tâm chưa đành

Trầm mặc Vĩnh Nghiêm

Chùa Vĩnh Nghiêm ở thôn Đức La, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang nên còn gọi là chùa Đức La, cách thủ đô Hà Nội chừng khoảng 80 cây số về phía Bắc. Ngôi chùa tọa lạc trên khuôn viên rộng chừng 10.000m2, nơi hợp lưu của sông Lục Nam và sông Thương. Chùa nhìn ra ngã ba sông, phía Lục Đầu Giang - Kiếp Bạc, cửa ngõ ra vào núi Yên Tử. Bao quanh chùa là những rặng tre xum xuê cành lá quanh năm, xa xa là núi non trùng điệp, trong đó có núi Cô Tiên, một điểm du lịch khá nổi tiếng với bức tượng Phật bằng đồng cao tới 10m đặt trên đỉnh núi này. Bên kia sông là vương phủ của tướng quân Trần Hưng Đạo, đền Kiếp Bạc.

Cả ba vị Tam Tổ Trúc Lâm đều lấy chùa Vĩnh Nghiêm làm trung tâm giảng đạo. Hiện nay, trong nhà Tổ đệ nhất còn đủ ba tượng Trúc Lâm Tam tổ Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang là một công trình kiến trúc độc đáo. Chùa Vĩnh Nghiêm được làm trên một trục, hướng Đông Nam gồm 4 khối: toà Thiên đường, toà Thượng điện, nhà Tổ đệ nhất, gác chuông, nhà Tổ đệ nhị và một số công trình khác. Từ ngày dựng chùa, hai bên đường được trồng thông để thành chốn tùng lâm, hiện nay có cây đường kính gần 1m. Trên sân chùa có một tấm bia to, 6 mặt, dựng năm Hoằng Định thứ 7 (1606) ghi lại công việc trùng tu chùa năm đó. Đối diện với tấm bia cổ là vườn tháp mộ trong đó là của 5 vị hòa thượng.

Chính vì giá trị văn hóa tâm linh cũng như kiến trúc độc đáo đã từng tồn tại trên 700 năm, năm 1964, chùa Vĩnh Nghiêm đã được Nhà nước xếp hạng là di tích Lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

 Chùa Vĩnh Nghiêm, ngôi chùa cổ nhất Việt Nam.

Nơi lưu giữ những giá trị văn hóa Phật giáo Việt

Theo Từ điển Di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993), chùa Vĩnh Nghiêm có từ thời Lý khoảng từ năm 1010 - 1225, được xây dựng qui mô, sau bị binh hỏa đổ nát. Đến năm 1606, đầu thời Nguyễn, chùa được đại trùng tu. Ngôi chùa này được ví như một bảo tàng Phật giáo ở miền Bắc, nơi lưu giữ nhiều tài liệu và di sản văn hóa Phật giáo quý giá, trong đó đáng chú ý nhất là bộ 3.050 mộc bản khắc in các bản kinh Phật bằng chữ Hán và chữ Nôm được khắc trong khoảng thời gian từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX.
 
Trong đó chủ yếu là kinh, sách, các văn bản về giới luật nhà Phật và một số trước tác về thơ, phú, nhật kí… của một số vị cao tăng dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Với những giá trị to lớn như vậy, kho mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm được đánh giá là “bảo vật quốc gia”. Các vật liệu được dùng làm bản khắc là gỗ thị và hầu hết được khai thác tại vườn chùa. Đây là loại gỗ thường được dùng để làm bản khắc in vì gỗ mềm, mịn, dai, dễ khắc, ít cong vênh, khó nứt vỡ.

Các bản khắc gỗ đều phải làm theo kĩ thuật khắc ngược, là một kĩ nghệ rất khó và tinh vi để khi in ra giấy sẽ trở thành chữ xuôi. Mỗi mặt khắc tương ứng với 2 trang sách. Kiểu chữ rất chân phương và sắc nét. Điều đó chứng tỏ các nghệ nhân người Việt xưa không chỉ giỏi về mặt kĩ thuật mà còn là những người rất am hiểu về cách thức tổ chức văn bản cũng như thông thạo về chữ Hán và chữ Nôm, một loại hình chữ viết cổ có cấu tạo rất phức tạp của người Việt.

Kích thước các mộc bản không giống nhau tùy theo từng loại kinh sách. Bản khắc lớn nhất có chiều dài hơn 1m, rộng 40 đến 50cm, bản nhỏ nhất chỉ khoảng 15 x 20cm.

Ngoài những giá trị về mặt hiện vật, bộ mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm còn được các nhà nghiên cứu đánh giá là có giá trị rất lớn về mặt học thuật. Dựa vào nội dung các mộc bản này, người ta có thể giải mã được rất nhiều vấn đề thuộc về quá khứ như: Lịch sử Phật giáo Việt Nam, khoa học kĩ thuật, văn học nghệ thuật, triết học, xã hội học, ngôn ngữ học... Đặc biệt, sự xuất hiện hai loại hình chữ viết Hán và Nôm trên các mộc bản này còn là cơ sở giúp cho các nhà ngôn ngữ học và sử học lí giải được lịch sử và tiến trình phát triển chữ viết của người Việt, nhất là quá trình chuyển biến từ chữ Hán (của người Trung Quốc) sang chữ Nôm (loại chữ viết tượng hình của người Việt). 

Đạo Thành


Ý kiến của bạn