Về nơi tượng hát mùa tình yêu

Suckhoedoisong.vn - Có lần đi chợ Hàng, ở thành phố Hải Phòng, tôi mua được một bức tượng gỗ người hút thuốc lào, nghe nói do nghệ nhân ở làng Bảo Hà (Đồng Minh, Vĩnh Bảo) điêu khắc.

Có lần đi chợ Hàng, ở thành phố Hải Phòng, tôi mua được một bức tượng gỗ người hút thuốc lào, nghe nói do nghệ nhân ở làng Bảo Hà (Đồng Minh, Vĩnh Bảo) điêu khắc. Tôi ngắm mãi cái miệng nhả khói tròn vo và đôi mắt của lão nông đang bay trong làn khói. Một chân dung xinh xinh nhưng lại có nhiều nét khắc họa sống động, tinh tế, có hồn cốt đê mê. Tôi vô cùng thích thú và mơ một ngày về...

Những huyền thoại lạ lùng bên sông Hóa

Tôi về làng Bảo Hà theo con đò bên sông Hóa, vì làng ở gần sát chân đê, lại có ngôi miếu cổ ở đó. Một ngày đầu năm 2016, tôi như bị thôi miên vì nghe nói ở đây có ngôi tượng Thành Hoàng làng, Linh Lang đại vương (tướng nhà Lý 1010-1266) biết đứng, biết ngồi với gương mặt phúc hậu và ánh mắt nhân từ. Sau khi nghe chuyện của người quản miếu Bảo Hà, cụ đã ngoài 90 tuổi, tôi càng biết thêm những nghệ nhân điêu khắc ở đây hết sức tài hoa. Cụ kể, các nghệ nhân trong làng đã tạc pho tượng Thành Hoàng làng to đúng bằng người thật; chân và tay pho tượng có nhiều khớp dễ chuyển động, khi có sự điều khiển bằng tay hay tự động. Sau đó họ vận dụng nghệ thuật múa rối để điều khiển bức tượng bằng những kỹ thuật khéo tay, làm cho bức tượng có thể khoan thai đứng lên, ngồi xuống tỏ tình thân thiện với dân làng vào lễ hội hàng năm. Đó không còn là những điều bí ẩn mà là nghệ thuật ứng dụng cổ xưa của người dân Bảo Hà. Đồng thời đây cũng là một tác phẩm nghệ thuật mà các nghệ nhân đã thể hiện những ngón nghề tạc tượng gỗ tinh xảo bậc nhất của làng đã trải qua hơn 500 năm.

Tượng chân dung tạc theo ảnh của nghệ nhân Đỗ Văn Bưởng.

Còn ông tổ nghề tạc tượng của làng lại là nghệ sư Nguyễn Công Huệ, cũng được thờ ở miếu này. Nhớ lại những chuyện xưa vào thế kỷ XV, cụ quản miếu kể rằng, chàng trai tài hoa và khéo tay Nguyễn Công Huệ ngày ấy bị giặc nhà Minh đô hộ nước ta (1407-1472) bắt đi quân dịch ở Quan Xưởng, Trung Quốc. Nguyễn Công Huệ đã âm thầm học hỏi những ngón nghề tâm đắc từ những người thợ nơi xứ người. Mười năm tu chí làm ăn, đến đời vua Lê Nhân Tông (1443-1459) Nguyễn Công Huệ được trở về. Về làng, ông truyền nghề cho bà con quanh vùng làm ăn. Nghề tạc tượng gỗ ngày càng phát đạt. Những người thợ của làng đi khắp nước tạc tượng Phật và sơn son thếp vàng cho các đình chùa. Nghề tạc tượng Phật, quan văn, quan võ, tố nữ, ông phỗng...; cùng các đồ thờ cúng như ngựa, hạc, kệ, lục bình, chân nến, bàn thờ... của Bảo Hà nức tiếng thiên hạ. Rất nhiều bức tượng Phật cổ ở chùa Mía và chùa Thầy ở Hà Nội đều do một tay những người thợ Bảo Hà làm nên. Người xưa nay ai cũng khéo tay, say nghề. Họ đều là những nghệ sĩ chân đất với những nét khắc chạm tinh tế, nuột nà. Nhiều bức chân dung người hết sức chân thật và dung dị như ở ngoài đời. Những gương mặt gỗ nhưng lại có hồn cốt thân thiện, như muốn trò chuyện cùng người. Ông tổ nghề Nguyễn Công Huệ, sau khi mất được phường thợ và dân làng Bảo Hà lập ban thờ trong miếu với bức hoành phi tôn vinh là “Bách thế sư”, tức là người thầy của muôn đời.

Lớp học trò sau của thầy Nguyễn Công Huệ có nhiều nhà điêu khắc cũng hết sức nổi tiếng và được triều đình trọng dụng. Trong số đó, nghệ nhân Tô Phú Vượng còn được vua Lê quý trọng và phong sắc “Hoàng tín đại phu Kỳ tài hầu”. Tài năng của ông đã gắn với giai thoại “Hạt gạo thành voi” hết sức kỳ ảo. Ấy là chuyện ông đã được triều đình gọi lên kinh đục ngai vàng cho vua ngồi. Đây là tác phẩm nghệ thuật được đục, khắc chạm họa tiết trên một khối gỗ liền, không lắp ghép. Sau khi hoàn thành, nghệ nhân Tô Phú Vượng đã ngồi thử để kiểm tra, nhưng không ngờ phạm phải điều cấm kỵ. Tội phạm thượng không thể tha thứ, ông bị tống giam, cầm tù. Trong một lần tình cờ, ông nhặt được 7 hạt thóc từ chiếc chổi rơm trong nhà lao. Với bàn tay tài hoa của mình, nghệ nhân Tô Phú Vượng đã tạc nên 7 chú voi, với dáng vóc khác nhau. Tiếng vang đồn vào cung, vua nhìn thấy những chú voi hạt gạo, hết sức kinh ngạc. Vua đã không những tha tội cho người nghệ nhân xuất chúng này mà còn phong cho danh hiệu “Kỳ tài hầu”. Cùng là học trò giỏi của nghệ sư Nguyễn Công Huệ còn có Hoàng Đình Ức, cũng được vua phong Cục phó Nam tước vì giỏi nghề và có bàn tay vàng. Hay như nghệ nhân Tô Phú Luật được phong “Diệu nghệ bá”... Hiện trong các nhà thờ họ Tô và Hoàng trong làng vẫn giữ các sắc phong và công trạng của các nghệ nhân nổi tiếng hàng trăm năm qua.

Do nghề tạc tượng khéo léo với khả năng lắp ghép chuyển động, ở Bảo Hà còn sinh thành ra nghề làm con rối. Đó là những nhân vật dân gian chuyển động trên sân khấu, với những tích trò diễn ra trong các lễ hội và sinh hoạt văn hóa xã hội thường niên. Chính vì thế mà đất Vĩnh Bảo có nhiều phường rối cạn, điều khiển bằng tay kết hợp với que tre và dây, để diễn trò trên sân khấu. Nhiều nhà nghiên cứu có lần đã khẳng định, chính Bảo Hà là nơi sinh ra những con rối đầu tiên ở nước ta. Đó quả là một niềm tự hào lớn lao và cũng là một truyền thống văn hóa dân gian đặc sắc của nước ta được bắt nguồn từ đây, nơi được ba con sông chở che. Đó là sông Luộc, sông Thái Bình và sông Hóa.

Dàn đồng ca rối.

Người chơi “trò độc” của làng

Theo chỉ dẫn của người quản Miếu, tôi tìm đến một truyền nhân khác trong làng. Đó là “Nghệ nhân dân gian” Đỗ Văn Bưởng ở xóm Quyết Thắng, thôn Bảo Hà. Gặp ông đúng là gặp một pho sử của làng nghề với nhiều câu chuyện thú vị. Ông có tài tạc tượng chân dung theo ảnh. Tôi đến đúng lúc ông đang chăm chú làm việc ngay tại góc sân. Ông nói, giờ 66 tuổi rồi (sinh năm 1950), mắt đã kém nên cần phải ngồi ngoài nắng nhìn cho rõ nét ảnh. Họ toàn đưa những ảnh đã phai nhạt theo thời gian. Đặc biệt là những ảnh đen trắng được chụp từ nhiều năm đã cũ nát có dùng kỹ thuật khôi phục cũng chỉ là ảnh với sắc độ nhòe mờ. Nhiều bức chỉ mờ mờ làm ông phải hình dung với những nét khắc họa khi tham khảo các ảnh của những người thân quen mà dựng gương mặt nhân vật. Một kiểu khắc tượng khó vào bậc nhất. Và, đó cũng là một sự lựa chọn đầy thử thách. Ở làng chỉ có mỗi ông dấn thân làm việc này. Được ăn cả ngã về không. Bởi chỉ một vết đục nhỡ tay là “rách” luôn cái mặt, một cú phỏng đoán về gò má là quyết định cả một khuôn hình. Hay nếu chỉ với một nét cong không chính xác của mí mắt là làm tan vỡ cả hồn phách. Đó là cái tinh thần bên trong của nhân vật cần phải được dựng nên với độ chính xác tuyệt đối.

Nghe nói vậy, tôi hình dung phần nào những nét tài tình của bàn tay phù phép khắc trên gỗ của ông Bưởng. Tôi xuýt xoa khi ngắm các nhân vật được bày la liệt trên sàn nhà. Mỗi nhân vật ông kể một câu chuyện. Rằng, tượng ông già này được một tay đại gia đưa đến đòi dựng tượng theo ảnh với kích cao lớn ngồi trên ghế. Tay đại gia này đã đặt tiền một nửa sau khi xem mẫu thấy đúng là mặt của cha mình. Tết này đến trao tiền rồi rước tượng về. Lại còn bà kia nữa, người hàng xóm của ông tượng này, thấy giống quá nên cũng muốn dựng một bức để sau này con cháu thờ cúng. Đúng là kiểu chơi của nhà giàu. Mốt dựng tượng thờ mới sang trọng...

Tôi bất ngờ hỏi ông có bao giờ bị thất bại, bị trả hàng vì tạc không giống ảnh không. Ông nói ngay là có, không phải ít lần. Đó là những khi gặp phải bức ảnh cũ nát mà ông phải phỏng đoán hay tưởng tượng về những nếp nhăn hay khóe miệng. Ông kể, ngay trường hợp chính người trong làng đến đặt tạc tượng theo ảnh của cụ nội. Khi mất cả nửa tháng trời hình dung và nhớ lại qua ảnh, ông Bưởng mới hoàn thành hợp đồng. Khi đến xem tượng, anh ta chê là không giống cụ nhà mình và kiên quyết từ chối. Thậm chí còn đôi co với ông Bưởng và không trả tiền. Ông Bưởng đành bày bức tượng ở góc nhà để làm kỷ niệm. Nhưng không ngờ nhiều người làng đến chơi đều nhận ra mặt của ông cụ được tạc tượng này. Phải tới mấy tháng sau, nghe bà con khẳng định, mặt tượng giống mặt người nhà anh đó còn gì nữa, người con trai kia mới xởi lởi đến nhận tượng cụ ông nhà mình về thờ. Thì ra muốn nhận ra mặt thật của người nhà mình cũng không đơn giản chỉ vì cái ảnh cũ kỹ...

Nụ chèo gọi xuân

Tôi đang hào hứng nghe chuyện thì đâu đó có một giọng hát chèo lanh lảnh vang lên. Ông Bưởng nói đó là đội rối đang tập chuẩn bị cho ngày Tết Bính Thân. Những con rối của trai làng này làm ra. Đó là một màn những con rối tố nữ múa hát chào đón mùa xuân. Tiếng hát rộn ràng như cuốn hút hồn tôi. Con sóng sông Hóa êm đềm trôi trong tiếng hát vang xa.

Tôi chậm rãi bước theo tiếng hát trong một chiều xuân. Lời ca dấm dứt nỗi niềm về tình yêu quê hương: “Ai về sông Hóa bến vui. Bảo Hà vào hội xin mời đò sang. Trời xuân nắng ấm mênh mang. Chúng em Tố nữ, những nàng xinh tươi. Lời xinh, lời ngọt, lời vui. Đón người khao khát một trời nhớ thương...”. Tôi lặng người ngắm những con rối tố nữ môi hồng, rung rinh mái tóc đuôi gà, với lúm đồng tiền khoe sắc. Đó là những bức tượng biết nhảy múa và hát ca về một mùa tình yêu đang đến.

Ký sự của Vương Tâm

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Về nơi tượng hát mùa tình yêu

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT