Về hai “ngôi sao” của Thơ Mới

Văn hóa – Giải trí
Trước đây, mỗi lần đi Paris, tôi bao giờ cũng ghé thăm anh bạn Phạm Tăng, ông họa sĩ thích làm thơ, hàng chục năm sống ẩn dật ở một khu ngoại ô Paris.
(SKDS) -  Trước đây, mỗi lần đi Paris, tôi bao giờ cũng ghé thăm anh bạn Phạm Tăng, ông họa sĩ thích làm thơ, hàng chục năm sống ẩn dật ở một khu ngoại ô Paris. Có lần, khoảng đầu những năm 80, tôi vừa bước chân vào phòng, anh vui vẻ báo tin là có hai “ngôi sao” vừa rời phòng anh: “Huy Cận và Xuân Diệu ở Việt Nam sang đã ghé thăm và thù tạc rất lâu ở đây”.

Nhân đó, anh làm một bài thơ dài có đoạn đầu và đoạn cuối như sau:

                          Vén mây mở cửa nhìn trời

                   Có hai tinh đẩu chợt rơi vào phòng

                           Mới sao cạn chén rượu hồng

                   Ấm duyên tao ngộ lại nồng duyên thơ

                    ………….

                             Bút hoa vạch mấy đường mây

                     Nối dây tâm sự vơi đầy với sao

                             Tháng ngày mây gió tiêu dao

                     Khắp trông vũ trụ chốn nào không quê

                              Trước sau cũng một lối về

                     Giữ sao cho trọn lời thề với Thơ!

Sau cuộc hội ngộ xa quê ấy, Huy Cận cho đến khi mất, thường có dịp gặp lại Phạm Tăng mỗi khi đi công tác đối ngoại.

Tôi quen Huy Cận từ trước Cách mạng Tháng Tám, qua một người bạn chung là Hoàng Văn Đức. Anh Đức là bạn tôi từ khi cùng học Ban tú tài Triết trường Bưởi. Anh Đức và anh Cận đều tốt nghiệp kỹ sư canh nông, cùng hoạt động bí mật Việt minh và dự Hội nghị Tân Trào. Sau anh Đức là Trung ương ủy viên Đảng Dân chủ, ngày 2/9/1945, đứng trên lễ đài Ba Đình cùng các vị đại biểu Quốc hội Hà Nội khi Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn Độc lập. Khi anh Huy Cận cùng đoàn đại diện Chính phủ lâm thời vào Huế dự lễ thoái vị của Bảo Đại, anh gặp tôi đang dạy học ở Kinh thành và gợi ý tôi nên ra Hà Nội ngay, ngoài ấy đang cần cán bộ có ngoại ngữ, phái đoàn đồng minh sắp sang ta. Anh viết cho tôi giấy “công vụ Cách mạng” cấp để ra Quốc lộ 1, thấy ôtô nào đi qua đều được phép buộc xe dừng để đáp nhờ về Hà Nội. Về Hà Nội, tôi ở cùng với các anh: Đức, Huy Cận và Xuân Diệu ở căn nhà Giám đốc cũ Thư viện Pasquier. Sau Thủ đô giải phóng (1954), tôi có dịp công tác nhiều với anh Huy Cận về văn hoá và hoạt động với UNESCO.

Tác phong Huy Cận xuề xòa, dễ mến, ăn mặc có khi lôi thôi lếch thếch. Mấy năm cuối đời, anh làm việc ở Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật cách cơ quan tôi chỉ ba bước chân nên buổi trưa thỉnh thoảng lại gặp nhau chuyện gẫu. Thật cảm động khi thấy anh người to béo, vất vả mới trèo lên được mấy bậc thềm cao. Có khi tôi mời anh đi ăn trưa luôn. Nhân đây, nhớ lại một kỷ niệm nhỏ về anh, buồn cười và cảm động. Ai không biết ở anh có sự mâu thuẫn giữa thanh cao và bình dân đời thường. Anh có tiếng không hào phóng lắm. Tôi nhớ một lần đi ăn với tôi, anh hồ hởi hẹn tôi: Thế nào mình cũng mời cậu đi ăn cháo lòng một bữa. Tôi đợi mãi và anh quên hoài…

Với Xuân Diệu, tôi ít có hoàn cảnh gặp hơn, tuy có những lần trao đổi sôi nổi về văn chương. Tôi gần gũi với phong cách “vạn cổ sầu” của phương Đông Huy Cận hơn là hừng hực hơi “tây” của Xuân Diệu.

Cách mạng Tháng Tám, Xuân Diệu viết bài thơ dài Hội nghị non sông (1946) để ca ngợi Quốc hội đầu tiên của nước ta. Cùng năm ấy, tôi đang dạy học và là Chủ tịch Hội Văn hóa kháng chiến Nam Định. Tôi mời anh về nói chuyện về thơ Cách mạng và anh được nhiệt liệt hoan nghênh ở thành Nam.

Có hai nhận định của Xuân Diệu làm tôi nhớ mãi. Một là khi anh nói chuyện về Thơ Mới ở Paris, anh trình bày về ảnh hưởng chủ nghĩa lãng mạn Pháp đã gieo mầm cho sự xuất hiện cái tôi trong thơ Việt Nam vốn trước đó không có trong thơ cổ điển. Nhận định thứ hai là về chất lượng dịch ở ta, trong một lần gặp gỡ ở Tam Đảo. Tôi còn nhớ rõ giọng nói và nét mặt bất bình của anh: “Quá nhiều dịch giả tiếng Pháp dịch láo, dốt, dịch sai lại gân cổ cãi là để Việt hóa câu văn. Trắng hãy dịch là trắng, đen hãy dịch là đen, rồi hãy bàn đến chuyện Việt hóa!”.

Xuân Diệu và Huy Cận là hai ngôi sao của Thơ Mới trước 1945. Nhưng từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945, thơ Xuân Diệu cũng như của nhiều nhà Thơ Mới khác kém sức hút độc giả đi nhiều, mặc dù mỗi lần gặp tôi, vào những năm cuối đời, anh thường hỉ hả nhắc là đã làm hàng trăm bài thơ tình. Tại sao có sự mất mát ấy? Phải chăng cái hay của Thơ Mới là nói được cái tôi cá thể, điều mà thời Cách mạng và Kháng chiến không khuyến khích đề cập. Huy Cận, Chế Lan Viên, Tế Hanh tiếp tục có thơ hay sau Cách mạng vì dễ nhập cuộc hơn Xuân Diệu, gắn được cái tôi với cái ta công dân.

Trong một bản thảo được công bố sau khi anh mất (Hồn Việt tháng 3/2012), Huy Cận khẳng định Thơ Mới là một cuộc cách mạng thi ca Việt Nam.

“Cái cảm xúc mới trước cuộc đời và thiên nhiên, vũ trụ” ấy vẫn tiếp tục nuôi dưỡng thơ Việt Nam cho đến ngày nay. Thơ Mới thành công vì nó tìm về cội nguồn, trân trọng tiếng Việt và các giá trị Việt. Nó không hẹp hòi trong tiếp nhận mà tiếp biến với văn hoá Pháp, lấy cái mới phương Tây làm giàu cho vốn văn hoá Việt!   

  Hữu Ngọc


Ý kiến của bạn