Văn học và bác sĩ

Văn hóa – Giải trí
Trong truyền thống Á Đông, các thầy thuốc đều là những người có nho học, nghĩa là đã có một vốn văn hoá chung kha khá.
Trong truyền thống Á Đông, các thầy thuốc đều là những người có nho học, nghĩa là đã có một vốn văn hoá chung kha khá.
 
Khi ta chuyển sang Tây y thì sinh viên vào Đại học Y Dược phải có bằng tú tài, nghĩa là đã có một vốn văn hoá chung vững. Các bác sĩ ta thời Pháp khi hành nghề vẫn tiếp tục trau dồi vốn văn hoá chung và điều này gián tiếp giúp họ trong chuyên môn. Vì y học vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, liên quan đến con người.

 Văn hóa đọc giúp con người lĩnh hội kiến thức văn hóa đa dạng của nhân loại.
Đến cuối thế kỷ thứ 20, y học hiện đại, nhất là ở Mỹ, ngày càng chuyên ngành, càng dùng máy móc và xét nghiệm tinh vi. Vậy có cần đến văn hoá chung trong việc đào tạo thầy thuốc không?

Hai giáo sư BS. Pháp C. Chastel và A. Cénac, chuyên gia về bệnh nhiệt đới, đã từng công tác ở Việt Nam, khẳng định là cần. Hai ông đưa ra chứng cớ là chính phủ Pháp vừa quyết định đưa vào chương trình năm thứ nhất của Đại học Y môn nhận thức luận (épisteinologie). Môn này nghiên cứu phân tách phê phán các bộ môn khoa học, nhằm tìm ra gốc lôgic của chúng, giá trị và hiệu quả của chúng.

Trong cuốn Lịch sử y học, (Paris, 1998), C.Chatel và A.Cénac đã tổng hợp ngắn gọn môn nhận thức luận áp dụng vào y học.

Sách có hai phần. Phần đầu giới thiệu các nền văn minh lớn trên thế giới và nêu lên những đặc điểm của từng nền văn minh (nhất là về bệnh tật) ảnh hưởng đến y học riêng của từng vùng. Các đối tượng được đề cập đến là  Ai Cập, Lưỡng Hà, Hy Lạp, Trung Quốc, Ấn Độ, A Rập, phương Tây.

Phần thứ hai dành cho 9 bệnh tai ương của loài người, xét về phương diện lịch sử, biến diễn, các cách điều trị và ảnh hưởng. Đó là những bệnh dịch tả, hủi, dịch hạch, sốt rét, HIV, đậu mùa, lao...

Đầu sách, hai tác giả trích dẫn lời bàn của G.Lazorthes về tầm quan trọng của nghệ thuật, văn học, văn hoá chung đối với người làm nghề y:

“Lý luận và đôi khi cả thực hành khiến cho người thầy thuốc xa văn hoá nghệ thuật và văn học. Họ có nguy cơ trở thành những chuyên gia thuần  túy hoặc những viên chức biết sử dụng một số bài thuốc. Không bao giờ những tri thức khoa học và kỹ thuật  có thể bù cho sự nghèo nàn về văn hóa chung, đặc biệt về văn học. Có những tài liệu khoa học và rất nhiều xuất bản phẩm đáng buồn vì ngôn từ nghèo nàn, câu cú viết sai cả về văn phạm.

Càng ngày càng ít giáo sư được ngưỡng mộ cả về trình độ khoa học, cùng với văn phong sáng sủa. Nghề y có hai nguy cơ: tình trạng chuyên môn hoá thái quá khiến người ta không còn chú ý đến cạnh khía con người trong y học và sự làm méo mó ngôn ngữ do dùng quá nhiều thuật ngữ khoa học, nhiều khi dùng xen ngoại ngữ khi chưa tìm được chữ thích ứng. Nhân văn không phải là một xa xỉ phẩm đâu! Văn hoá cũng cần thiết như khoa học”.

Hai tác giả C.Chastel và A.Cénac nhấn mạnh:

“Chúng ta thường có thói quen cho là các môn khoa học cơ bản chỉ cần ở những khóa học y đầu tiên mà thôi. Nhưng hiện nay, do ảnh hưởng bao trùm của sinh học phân tử, nhiều nhà trí thức đang cố gắng tái lập một hình thức cổ điển của tri thức là văn hoá chung (culture générale). Dạy nhận thức luận ở đại học y cũng nằm trong mối quan tâm ấy. Nghiên cứu với đầu óc phê phán y học, tìm ra gốc của nó một cách lôgic, đánh giá và ước lượng hiệu quả của  y học, đó thực là một công cuộc vĩ đại. Ngoài ra, nếu thu hẹp lại lĩnh vực thuần túy y học thì sẽ không biết đến tính chất đa môn học của tư duy khoa học.

Vào cuối thế kỷ 20, sự biến diễn như vũ bão của kỹ thuật khiến ta ít thời giờ để suy nghĩ về dĩ vãng. “Khoa học dùng để làm gì?” Câu hỏi này chưa có câu trả lời đơn giản, nên dẫn đến những nguy cơ trật đường như những thể nghiệm về gen.

Tạo cho sinh viên y khoa biết tư duy ngay từ những khoá học đầu là rất cần, họ chủ động hào hứng tìm hiểu là một điều kiện thành công. Điều đó khiến họ sẽ đặt những câu hỏi trong quá trình học các môn khác. Tìm hiểu những nền văn minh lớn và những bệnh tai ương của nhân loại là đặt vị trí con người trong bối cảnh lịch sử, để thấy rõ số phận mong manh của con người, mà cũng thấy khả năng  con người  biết điều chỉnh để tồn tại, trong những hoàn cảnh gay go nhất”. 

Hữu Ngọc


Ý kiến của bạn