Trong bộ sách nổi tiếng Những cấu trúc sinh hoạt thường ngày nhà sử học Pháp F.Braudel xếp cà phê vào loại đồ uống có ảnh hưởng đến văn minh nhân loại.
Chữ cà phê (tiếng Pháp: café) gốc A Rập là Gamwa, Thổ là Kanve, còn các tiếng châu Âu thì âm gần giống tiếng Pháp. Qua ngôn ngữ thấy được hành trình của cà phê. Xưa kia, người Abyxini (Etiopi) nghiền quả cây cà phê trên cao nguyên làm bột trộn với mỡ thành viên hay bánh để ăn. Đến thế kỷ thứ 8, người Ả Rập nấu quả và lá cà phê làm thuốc. Đến giữa thế kỷ 16 thì cà phê thành đồ uống phổ biến của đế chế Thổ Nhĩ Kỳ, các nước theo đạo Hồi, đặc biệt là người Ả Rập, Trung Cận Đông và Bắc Phi, kể cả Ba Tư. Đến thế kỷ 17 thì cà phê nhập vào Ý, Anh, Pháp, Áo, Thụy Điển... khắp Tây Âu.
Do cà phê thành mặt hàng bán chạy nên sang thế kỷ 18, các nước châu Âu và thực dân châu Âu cho trồng nhiều ở các thuộc địa châu Á, châu Mỹ, châu Phi (Hà Lan trồng cà phê ở Zava từ năm 1650). Dân bản địa như ở Việt Nam, học cách uống cà phê.
Người dân Pháp rất hồ hởi với cà phê. |
Năm 1615, một nhà du lịch Ý đến thủ đô Thổ viết: Người Thổ uống một thứ nước màu đen. Uống từng ngụm dài sau bữa ăn như một thứ tráng miệng, uống khi trò chuyện với bạn bè. Không cuộc họp mặt nào không uống, có khi kéo dài đến 7, 8 tiếng đồng hồ. Ngày nay, cà phê Thổ (café Turc) là loại cà phê đen rất đặc pha bằng bột trong chén nhỏ, cà phê bột đun nước sôi. Ước lượng hiện có hai tỷ người trên thế giới uống cà phê. Người Mỹ uống nhiều nhất tính theo số lượng, nhưng tính theo đầu người thì là Bắc Âu (theo trình tự năm 2001) Phần Lan, Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển.
Nước Pháp nổi tiếng với nghệ thuật ẩm thực, đã tiếp đón cà phê rất hồ hởi, khiến cà phê có một vị trí cao ở Pháp. Năm 1669 đại sứ Thổ tiếp tân, chuyên mời uống cà phê. Một năm sau, ở Paris xuất bản cuốn Chuyên khảo về cà phê (vô danh) ca ngợi cà phê là một thần dược: Nó chấm dứt khí lạnh, trừ khử các hơi trong ruột, bồi bổ cho gan, có tính thanh lọc nên làm giảm chất lỏng có hại cho bụng. Tuyệt vời để chữa ghẻ và máu xấu, hạ hoả tim và nhịp đập của nó, giảm đau dạ dày và biếng ăn, cũng tốt cho những nhiễu loạn có tính lạnh, ướt, nặng (óc, mắt , tai, phổi, thận). Đặc biệt giúp tiêu hoá tốt.
Nhưng lại có một số thày thuốc và dư luận cho cà phê làm đàn ông hạn chế sinh con. Vì vậy, có thời điểm hoàng đế Thổ, Giáo hoàng, một số vua chúa cấm cà phê.
Dù sao, cà phê vẫn phát triển ở Paris. Cuối thế kỷ 17 xuất hiện những người Tây Á ăn mặc kiểu Thổ đi bán cà phê rong phố. Năm 1670, họ mở tiệm cà phê đầu tiên. Đến thế kỷ 18, đã có tới 600-700 tiệm, Cà phê dần phổ biến trong các gia đình, kể cả giới công nhân uống buổi sáng trước khi đi làm (các bà bán rong đeo thùng cà phê trên lưng). Các nước châu Âu dùng cà phê tăng dần, nhất là khi các thuộc địa sản xuất được nhiều nên giá rẻ. Ở Paris, cà phê ảnh hưởng đến sinh hoạt xã hội và văn hoá: tiệm cà phê thành nơi hẹn hò của giới thượng lưu, đồng thời cũng là nơi trú ẩn của người nghèo, là nơi người ta bàn thời sự và thảo luận các tư tưởng mới của các triết gia Ánh Sáng, châm ngòi cho Cách mạng 1789, song song với việc thảo luận ở các khán phòng sang trọng và các câu lạc bộ.
Từ cuối thế kỷ 19, tiệm cà phê càng trở thành nơi hội tụ của văn nghệ sĩ Paris. Ở xóm Montparnasse, các nhóm tượng trưng, đa đa, siêu thực, lập thể thường ký tên trên bàn các tiệm cà phê cũng như phe hiện sinh ở Saint-Germain-Des-Prés, Ở những tiệm café-concert, khách hàng vừa uống cà phê vừa nghe biểu diễn ca nhạc. Từ năm 1950, tiệm cà phê cũng là nơi thể nghiệm "sân khấu mới" đủ loại, nhất là sân khấu của sự vô lý.
Cuốn Sổ tay của văn minh Pháp có ghi " Các tiệm cà phê, bar, quầy ăn... san sát trong các phố. Ở sân hiên mùa đông bọc kính, khách đủ mọi lứa tuổi bám quanh những bàn tròn cẩm thạch nhỏ chỉ có một chân. Người ta uống khai vị, bia, rượu, cà phê, nước quả... Có máy nghe đĩa điện tử, chơi bi-a điện tử. Tiệm cà phê nhiều khi là trụ sở của một số hội. Tiệm cà phê để hẹn hò, đánh số đua ngựa... là trụ cột cuộc sống hàng ngày".
Nhưng từ những năm 1980, số tiệm cà phê ở Pháp bắt đầu giảm, (ngược với Việt Nam). Năm 1910, Pháp có 510.000 tiệm cà phê (dân số 42 triệu), đến năm 1990 còn 70.000 (dân số 57 triệu). Sau đó mỗi năm mất thêm 4.000 nữa. Lý do chính sách giãn dân, người các trung tâm thành phố đổ về ngoại ô, kinh tế khủng hoảng ở một số vùng, nhất là do sự đa dạng cách giải trí (xem tivi, các loại giải trí khác). Tiệm cà phê không còn là trung tâm giao lưu. Các tiệm bán fast food (thức ăn nhanh) lại thu hút giới trẻ.
Dù sao, cà phê vẫn là một nét văn hoá của người Pháp trong đời sống hàng ngày.
Hữu Ngọc