Vấn đề chưa khi nào hết “nóng”

Văn hóa – Giải trí
SKĐS - Kể từ khi khai thiên lập địa cho đến muôn đời thì vấn đề biên giới giữa các quốc gia luôn là vấn đề được Nhà nước quan tâm hàng đầu. Nước Việt ta cũng không ngoại lệ.

Nhân kỷ niệm 44 năm Ngày thống nhất đất nước, xin giới thiệu bài viết này để bạn đọc hiểu thêm về TS. Trần Thọ (1639 - 1700) và vấn đề bang giao với nhà Thanh, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ nước Đại Việt.

Trần Thọ (có sách ghi là Trần Đạo, Phan Huy Chú trong Bang giao chí, ghi tên ông là Trần Đào) tên tự là Nhuận Phủ, sinh năm 1639, người làng Điền Trì, huyện Chí Linh, nay là xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, đỗ tiến sĩ  năm 1670. Ông là con Hàn lâm viện Thừa chỉ, Dụ Phái Hầu Trần Phúc, cha Tham tụng Lễ bộ thượng thư, Diệu Quận Công Trần Cảnh (nhà nông học đầu tiên của Việt Nam, tác giả bộ sách Minh nông chiêm phả, 1749), ông nội Phó đô Ngự sử, Lễ bộ Thượng thư, Sách Huân Bá Trần Tiến (người sáng lập thể ký tự thuật trong văn xuôi Việt Nam từ năm 1764 với tập ký tự thuật đầu tiên Trần Khiêm Đường niên phả lục - Khiêm Đường là tên tự của Trần Tiến). Trần Thọ làm quan từ Tả Thị lang bộ Hộ, sau thăng đến Tham tụng, Hình bộ Thượng thư, tước Phương Trì Hầu.

TS. Lê Xuân Kiêu (người đứng bên trái) - Giám đốc Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội  tới thăm mộ Nhà bang giao thời Lê - TS. Thượng thư Trần Thọ.

TS. Lê Xuân Kiêu (người đứng bên trái) - Giám đốc Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội  tới thăm mộ Nhà bang giao thời Lê - TS. Thượng thư Trần Thọ.

Theo Việt sử Thông giám cương mục tập XVI chính biên q. XXXIV Nhà xuất bản (NXB) Văn Sử Địa, Hà Nội,  1960, trang 53/1.558, nhà Thanh (Trung Quốc) chiếm đất 4 châu biên giới phía Bắc: Bảo Lạc, Vị Xuyên, Thủy Vĩ và Quỳnh Nhai thuộc Tuyên Quang và Hưng Hòa, 4 châu này gồm 19 xã. Tháng 5 năm Mậu Thìn (1688), vua Lê sai Trần Thọ lên làm quan ở Tuyên Quang và Hưng Hòa để tra xét việc nhà Thanh lấn chiếm đất biên giới. Sau đó, Trần Thọ viết thư cho vua Thanh, gửi qua quan đầu tỉnh Vân Nam, để đòi lại đất (viết đến 2 lần). Năm 1690, vua  Lê lập đoàn Sứ bộ sang nhà Thanh mà Chánh sứ  là Nguyễn Danh Nho và Nguyễn Quí Đức làm nhiệm vụ triều cống, Phó sứ là Trần Thọ, Tả Thị lang bộ Hộ làm nhiệm vụ đòi đất, còn 1 Phó sứ nữa là Nguyễn Tiến Sách, Tả Thị lang bộ Binh, chỉ huy bảo vệ chuyến đi với rất nhiều vật phẩm triều cống quý báu. Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam của Viện Sử học, NXB Khoa học Xã hội, 1987, trang 325, căn cứ vào thư tịch cũ, ghi chuyến đi sứ năm 1690 của đoàn, chỉ ghi đòi đất chứ không ghi việc triều cống, chứng tỏ việc đòi đất (do Trần Thọ đảm nhận là chính) là quan trọng nhất.

Đoàn sứ bộ rời Thăng Long tháng 4 năm Canh Ngọ (1690). Do đường xa, núi sông hiểm trở, mưa nắng thất thường, phương tiện chưa hẳn đã thuận lợi, sản vật triều cống quý hiếm lại cồng kềnh, việc bảo vệ từng sản vật một phải vô cùng nghiêm cẩn nên phải 9 tháng sau, đầu năm Tân Mùi, Đoàn sứ bộ ta mới đến nơi. Vì vậy, sách An Nam kỉ yếu của nhà Thanh ghi Đoàn sứ bộ ta đến cống nạp năm Tân Mùi (1691). Có lẽ cũng vì thế, một vài bài báo mới viết Nguyễn Danh Nho đi sứ năm 1691 và trong Toàn Việt thi lục,  Lê Quí Đôn chọn 3 bài thơ viết về việc bang giao với nhà Thanh của Trần Thọ, cùng ghi Trần Thọ  “phụng mệnh đi sứ” năm Tân Mùi (1691).

Tập sách Trạng nguyên, Tiến sĩ, Hương cống Việt Nam của Bùi Hạnh Cẩn, Minh Nghĩa, Việt Anh biên soạn, NXB Văn hóa Thông tin, 2002 có những đoạn ghi về Trần Thọ, Trần Cảnh, Trần Tiến trong đó, tại trang 948 viết: “Trần Thọ đi sứ nhà Thanh 2 lần”.

Sách Địa chí Hải Dương, NXB Chính trị Quốc gia, 2008, tập II, tr. 531 ghi về Trần Thọ có đoạn như sau: “Sau khi đi sứ Trung Quốc về, ông được thăng Bồi tụng. Ông làm quan thanh liêm, cần mẫn, thận trọng, rất ghét chia rẽ bè phái. Làm quan lớn mà nhà vẫn nghèo, nhiều người mang tiền bạc đến biếu nhưng không nhận, ý chí không bao giờ bị lung lạc. Ông là người rất mực trung thành, không cầu lợi, không siểm nịnh, không ngạo mạn hay xu thời. Ông đọc sách không biết chán, đọc rồi sửa, dịch nhiều sách chữ Hán ra chữ Nôm. Ông còn sáng tác nhiều thơ văn, nhưng phần lớn đã thất lạc, hiện chỉ còn 3 bài trong Toàn Việt thi lục. Năm 60 tuổi về hưu, 61 tuổi, triều đình lại mời tái nhiệm nhưng chưa kịp nhậm chức thì ông mất”.

Trần Thọ mất tại quê nhà, mộ táng tại đồng của làng Điền Trì, hiện vẫn còn nguyên vẹn. Trần Thọ được nhà Lê vinh danh là Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Trụ quốc. Khi mất, được vua ban cho tên thụy là Trung Mẫn.

Như vậy từ thời Lê, vấn đề chủ quyền biên giới quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của nước Đại Việt đã được đặt ra một cách rất nghiêm khắc và hệ trọng. Năm 1473, vua Hồng Đức nhà Lê (sau khi mất gọi tên ông theo miếu hiệu là Lê Thánh Tông) làm lễ Tế Giao. Lễ này chỉ dành cho các bậc thiên tử. Làm việc đó, Lê Thánh Tông đặt nước Đại Việt ngang với nước Đại Minh. Cũng năm đó - 1473, vua Lê Hồng Đức nói với các quan trông coi biên giới rằng: “Một thước núi, một tấc sông của ta, không nên vứt bỏ. Ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe còn có thể sai quan sang sứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di” (Đại Việt Sử ký toàn thư, quyển XIII tập III, NXB Khoa học Xã hội, 1972, trang 250). Trần Thọ đã làm việc với tinh thần nghiêm cẩn đó. Nhà Thanh trả dần từng mảnh đất đã lấn chiếm nên ta còn một dải biên thùy Hà Giang - Cao Bằng hiện nay, trong đó Vị Xuyên còn giữ được tên cũ. Đến khi hoạch định cắm mốc biên giới Việt - Pháp - Thanh năm 1890, không rõ 19 xã thuộc 4 châu Bảo Lạc, Vị Xuyên, Thủy Vĩ, Quỳnh Nhai của thời Lê, nhà Thanh có trao trả đủ 19 xã không (vì sử nhà Nguyễn không ghi lại thật cụ thể).

Trần Thọ có Nhuận Phủ thi tập, nay đã thất lạc, chỉ còn lại 3 bài thơ bang giao với nhà Thanh, Lê Quý Đôn chọn in trong Toàn Việt thi lục mà còn đến bây giờ. 3 bài thơ do Nguyễn Huệ Chi phiên âm từ văn bản chữ Hán, chuyển cho tác giả bài báo này, từ vài chục năm trước, chưa có bản dịch nghĩa và dịch thơ:

TẶNG ĐẠI THANH SỨ CHU XÁN

Bài 1

Độc thiện phương danh mĩ ngọc khuê

Cổn y thử nhật ái công tê (tây)

Hàm hương thường tự minh bang lễ

Phụng mệnh minh từ độ viễn khê

Phẩm tự thanh sơn nhân cộng ngưỡng

Ngâm thành bạch tuyết thế tranh đề

Ân cần tả hữu vô tha nguyện

Câu lậu sơn cao tính tự tề

Bài 2

Quang chiêu thịnh thế giáo hoằng hưu

Tuần mĩ tiên sinh quân tử chu

Thị túng lưỡng triều đa trước tác

Trì khu vạn lí kí tự tu

Khinh trang Lục Giả suy từ mệnh

Truyền hịch Tương Như tự bính bưu

Đượng trữ kinh luân tư luận tán

Hỉ khan phu tử tọa trung thu

BẮC SỨ TIỄN KHÂM SAI BAN TỐNG TRƯƠNG

Trâm anh khắc kế đại tài kham

Ngọc tiết quang (…) tác chỉ nam (*)

Mục mục tử thần khâm xuất bột

Hoàng hoàng nguyện hiểm sấn chinh tham

Thánh bôi hiền trản cung ngu thưởng

Minh nguyệt thanh phong tự tiếu đàm

Vạn lí hiền lao công độc thiện

Kiều thiên hôi kiến tước vinh đam

--------------------

(*) Một chữ bị mất không đọc được.


Nhà thơ TRẦN NHUẬN MINH
Ý kiến của bạn