Nguồn protein động vật và thực vật khác nhau ra sao?
Theo ThS. BS Vũ Thị Lan Anh, Phụ trách Khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông (Hà Nội) cho biết, nếu ví cơ thể trẻ là một công trình đang xây dựng, thì protein chính là vật liệu, không có vật liệu thì công trình không thể hoàn thiện.

Protein có vai trò quan trọng phát triển sức khỏe trẻ.
Bác sĩ cho biết rằng, với chiều cao, protein không làm trẻ cao, nhưng quyết định trẻ có cao được hay không. Xương dài ra nhờ một vùng rất đặc biệt: sụn tăng trưởng, để vùng này hoạt động, cơ thể cần:
Acid amin => để tạo khung sụn (collagen, proteoglycan)
Protein đầy đủ => để duy trì IGF-1, "công tắc" kích hoạt tăng trưởng
Khi thiếu protein: IGF-1 giảm, tế bào sụn "lười" phân chia → xương dài chậm lại
Khi đủ protein: hệ thống tăng trưởng hoạt động trơn tru → trẻ mới có cơ hội chạm tới chiều cao di truyền
Liên quan đến nguồn protein, BS Lan Anh cho biết không phải tất cả protein đều giống nhau về chất lượng sinh học. Có hai yếu tố quyết định là: Thành phần acid amin thiết yếu và khả năng tiêu hóa – hấp thu.
Protein động vật là "chuẩn vàng" về chất lượng (nguồn từ thịt, cá, trứng, sữa). Đặc điểm của Protein động vật là chứa đầy đủ 9 acid amin thiết yếu với tỷ lệ cân đối, giá trị sinh học cao, tiêu hóa và hấp thu tốt. Hỗ trợ tối ưu tăng trưởng chiều cao, phát triển cơ, đặc biệt quan trọng ở: trẻ em, người bệnh, sau phẫu thuật, suy dinh dưỡng.
Protein thực vật thiếu hụt một vài acid amin, cần phải phối hợp để hoàn chỉnh (nguồn đậu, hạt, ngũ cốc, rau). Đặc điểm là thường thiếu 1–2 acid amin thiết yếu như ngũ cốc → thiếu lysine, đậu → thiếu methionine, khả năng tiêu hóa thấp hơn (70–85%) do chất kháng dinh dưỡng (phytate, tannin), cấu trúc protein phức tạp. Ưu điểm là ít chất béo bão hòa, tốt cho tim mạch
Trẻ em cần bao nhiêu protein mỗi ngày?
Về nhu cầu, ThS.BS Lan Anh nhấn mạnh nhu cầu protein của trẻ không cố định, mà thay đổi theo giới, tuổi, cân nặng và giai đoạn tăng trưởng
Trẻ nam: 6 -11 tuổi: 1,43g/kg/ngày; 12 – 14 tuổi: 1,37g/kg/ngày; 15 – 18 tuổi: 1,25g/kg/ngày
Trẻ nữ 6 -9 tuổi: 1,43g/kg/ngày; 10 – 11 tuổi: 1,39g/kg/ngày; 12 – 14 tuổi: 1,30g/kg/ngày; 15 – 18 tuổi: 1,17g/kg/ngày
ThS.BS Lan Anh cho biết trong dinh dưỡng hiện đại, không chỉ quan tâm tổng lượng protein, mà còn chú trọng tỷ lệ protein động vật trong khẩu phần vì điều này quyết định trực tiếp đến chất lượng tăng trưởng. Đối với trẻ ở độ tuổi học đường, tỷ lệ Protein động vật nên chiếm từ 35% - 50% tổng lượng Protein.
Nguyên tắc dễ nhớ: mỗi bữa chính có 1 món đạm động vật (thịt/cá/trứng/sữa) và kết hợp thêm đạm thực vật (đậu phụ, đậu đỗ, hạt)
Đề cập đến dấu hiệu thiếu protein, bác sỹ cho biết tình trạng này thường diễn ra âm thầm ở giai đoạn đầu, nhưng có thể nhận biết qua các biểu hiện lâm sàng như tăng trưởng chậm, chiều cao và cân nặng không đạt chuẩn theo tuổi, có thể kém bạn cùng lớp dù ăn uống bình thường; cơ bắp kém phát triển: cơ nhão, sức bền giảm, hoạt động thể chất nhanh mệt;
Rối loạn dinh dưỡng phụ trợ như phù nhẹ (đặc biệt ở chân, tay), tóc thưa, xơ, dễ gãy, da khô, mỏng, kém đàn hồi
Giảm miễn dịch như hay mắc các bệnh nhiễm trùng nhẹ, lâu hồi phục, viêm họng, cảm cúm tái diễn; Giảm năng lực học tập và tập trung: thiếu protein ảnh hưởng tới tổng hợp neurotransmitter, dẫn đến giảm tập trung, trí nhớ kém
Ở chiều ngược lại, ThS.BS Lan Anh cũng cảnh báo rằng bổ sung protein vượt nhu cầu khuyến nghị không mang lại lợi ích tăng trưởng thêm và tiềm ẩn rủi ro. Hệ quả tiềm tàng của dư protein là tăng gánh nặng chuyển hóa cho gan và thận, dễ mất cân đối khẩu phần, thiếu chất xơ, vitamin, khoáng; Thừa năng lượng → tăng nguy cơ thừa cân, béo phì. Lâu dài có thể ảnh hưởng mật độ xương do tăng đào thải calci
Khuyến nghị được ThS.BS Lan Anh đưa ra là protein nên được cung cấp đủ – cân đối – phù hợp từng giai đoạn; Ăn đúng nhu cầu, đa dạng nguồn (động vật + thực vật) tốt hơn là bổ sung quá mức.

